Giòng Nhạc Taizé Âm Thanh Của Nguyên Thủy Thiết Tha Trầm Lắng

Tháng Ba 4th, 2010

Linh Phương   

Từ nhiều thập niên trước, sách Thánh nhạc để dùng trong các buổi lễ thờ phượng Chúa của Hội Thánh Tin Lành Lutheran đã có rất nhiều tín hữu yêu mến ca hát với tất cả tâm hồn dâng lên Thiên Chúa cùng giòng nhạc Taizé  mỗi sáng Chúa Nhật. Giòng nhạc Taizé nguyên thủy khởi đầu từ một nhóm cầu nguyện tại một tu viện trên đồi Burgundy của miền Ðông nước Pháp thuộc thị trấn hẻo lánh mang tên Taizé ở giữa Lyon và Paris.  Ðây là một nhóm nhỏ cầu nguyện bằng lời ca tiếng hát “Come and Worship”  theo thể Period năm 1940 do  Mục sư Roger Schulzt, người Thụy sĩ,  khởi xướng.  Nhóm cầu nguyện này là những tín hữu tị nạn đã thoát chạy khỏi bạo quân  Đức Nazi thời chiến tranh.  Vào năm 1949 có bảy người trong tu viện hát những bản thánh ca Taizé.     Thánh ca Taizé đã được nổi tiếng vang xa,  và nay với thời đại tân tiến này đã có các hệ thống truyền thông khắp nơi trên thế giới và bây giờ  tổng hợp Thánh ca Taizé đã được trên trăm ngàn mục sư hướng dẫn giới thiệu, luôn cả nhà thờ của Công giáo La mã của trên hai mươi lăm quốc gia cùng hát trong các buổi lễ cầu nguyện thống hối ăn năn trước Thiên Chúa.  Và giòng nhạc truyền cảm đã có sức hút mãnh liệt khi lời nhạc vang lên làm cho tâm hồn con người trầm lắng, quay về với bản thể, với riêng chính mình tâm sự với Đấng Tối Cao.  Kỳ diệu thay là giới trẻ Âu châu và các quốc gia khác, cứ mỗi năm họ đã lấy kỳ nghỉ hè để cùng đến nhà thờ nhỏ bé trên đồi Burgundy  tìm về sự tĩnh lặng  tâm linh, tâm hồn thanh thản cầu nguyện với Thiên Chúa xóa đi đau thương cùng phục hưng tâm linh. Buổi sáng, trưa, chiều,  với tâm hồn yêu mến Chúa, mọi người cầu nguyện ca hát.  Hằng tuần có trên mười ngàn giới trẻ đã đến từ khắp nơi trên thế giới đã làm cho ngôi thánh đường nhỏ bé với số người tràn ra ngoài đồi không còn sức chứa nữa.  Họ đã làm cho một vùng hẻo lánh nhỏ bé này luôn vang lên giòng nhạc Taizé, và nhạc Taizé liên tiếp được hát lên bằng những lời ca của các quốc gia từ năm này qua năm khác như  Anh, Pháp, Ðức, Thụy Ðiển, Latin, Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam v.v…  Ðặc biệt, có những người Tây Ban Nha, người Nam Mỹ với  cả trăm ngàn người thường hát những khúc nhạc Taizé  tại các nhà thờ khi cầu nguyện cũng như các buổi lễ nhóm họp tại đất nước họ.  Bởi vì giòng nhạc Taizé rất dễ nhớ, dễ đi sâu vào tâm hồn con người qua đôi tai ta thấm nhập sẽ thấy trái tim ta khe khẻ rung động qua những bài nhạc Taizé. Và những năm sau này,  giới trẻ đã dùng giòng nhạc Taizé qua các sáng tạo đặc biệt, phối âm cùng các nhạc cụ khác nhau, nhiều ban nhạc trẻ đã biến tấu qua thể  Ballad, Solf Rock hay Blue tùy theo sắc thái của quốc gia riêng mình.  Những ca khúc Taizé có những thanh âm trầm lắng cảm động như  muốn trải rộng tâm tình với Ðấng Cao Cả là Thiên Chúa, khiến tất cả muốn quì lạy trước Ðấng Chí Tôn Ba Ngôi thật  xúc tích và tuyệt vời. Riêng ngôn ngữ Việt Nam có bốn ca khúc đã được nữ nhạc sĩ  Linh Phương  cảm xúc giòng nhạc Taizé và  viết  lên lời Việt cho mùa Chay năm 2005 trong CD “Ðường Con Ði 2”  như bài “O Lord, Hear My Prayer,” (Chúa Nghe Con Cầu Khẩn)  “Jesus, Remember me” (Jesus Ôi) và “Kyrie” (Thương Xót Chúng Con) và ”Eat This Bread” (Bánh Hằng Sống). Càng ngày có nhiều chủng tộc trên thế giới đã yêu mến giòng nhạc Taizé. Họ muốn trang trải tâm tình trong ngôn ngữ riêng của nước mình, và từ những năm đầu, muốn làm được điều này cho hoài bảo được phổ biến khắp thế giới, Linh mục Joseph Gelineau đã thử thể nghiệm giòng nhạc Taizé qua các thánh đường ở Pháp quốc trong các buổi lễ; và cũng nhờ tài năng của Linh mục nhạc sĩ  Jacques Berthier (1923- 1994) cộng tác viết thêm những ca khúc Tazé giãn dị cho cộng đồng dân Chúa hát lên trong giờ cầu nguyện.      Trên hai mươi năm có thêm những ca khúc Taizé mới do Linh mục Berthier viết được truyền bá phổ biến rộng rãi sang  tại miền Bắc Hoa Kỳ do nhà  GIA Publication Chicago ấn hành.  Những giai điệu của giòng nhạc Taizé rất ngắn, lời nhạc giản dị dễ nhớ, không cầu kỳ đi thẳng vào tai người nghe, hợp với tâm tình con người không e dè trải rộng trước Chúa. Ðó là mục đích sáng tác của Linh mục Berthier đem con người trút bỏ sự nặng nề trong đời sống, con người chỉ là tạo vật do Chúa dựng nên. Vì thế, khi ta hát các ca khúc Taizé, cộng với lời đọc Kinh Thánh ngắn ngủi trong giờ cầu nguyện  ý nghĩa  khiến tâm hồn ta cảm thấy an ủi như  Chúa đang nghe lời tâm tình cầu khẩn của ta.  Lời ca khúc, ý nhạc Taizé đã giản dị, giòng nhạc (melody) lập lại vài lần như bình ca (folk song) trong ca khúc, tiết điệu chậm chậm, từ từ  thấm sâu tâm hồn, trong  khi tiếng nhạc dẫn nhập bằng sáo và guitar trầm lắng  dài cho ba mươi sáu trường canh (measures), để người ca chững chạc cất tiếng hát thật êm dịu, đòi hỏi giọng ca thật mạch lạc trầm bổng chính xác theo giai điệu.  Ðôi khi có những đoạn nhạc người ca chỉ “hum” theo giai điệu như than  thở với Chúa,  người ca bè trầm làm rõ nét quyện vào “hum” làm ca khúc có kỷ thuật hoàn hảo như bài nhạc “O Lord, Hear My Prayer,”  “Jesus, Remember me.” Nhiều nhóm trẻ khoảng sáu đến chín người cũng chia thành bè để hát những bài Taizé ở nơi cắm trại hay nơi vắng vẻ cánh đồng hay các thành phố nhỏ, cho nhạc Taizé được người ta nghe một cách thánh thoát vương trong không gian yên tĩnh. Truyền thống  Taizé với mỗi buổi lễ cầu nguyện bằng một bài hát ngắn, sau đó là đọc một đoạn Kinh Thánh, kế tiếp thêm một bài hát ngắn, rồi im lặng và cầu nguyện khoảng 10 phút.  Sau đó, có sự giảng dạy Lời Chúa vừa đọc, cuối buổi cầu nguyện có thêm một bài hát trẻ trung  trong sáng, giản dị, một bài nhạc hòa tấu của ban nhạc chúc bình an khi kết lễ. Trong nghi thức thờ phượng (liturgy) của Giáo hội Lutheran đã thể nghiệm nhiều lần, và áp dụng trong nghi lễ của giờ cầu nguyện đã đạt  kết quả tâm linh. Nhất là trong Mùa Chay, nhu cầu của  con dân Chúa muốn ăn năn trở về với Chúa nhưng có mặc cảm tội lỗi vấp phạm, sống rời xa Chúa… Và trong những giờ phút họ quay về với Chúa,  họ khẩn nguyện cọng thêm giòng nhạc Taizé sẽ làm cho tâm hồn con dân Chúa mạnh dạn cầu khẩn cùng Ngài. Khi    Tiệc Thánh rước lễ (Holy Communion), thời gian tốt nhất để hát ca khúc “Bánh Hằng Sống” (Eat This Bread) có cơ hội để cộng đồng dân Chúa được hát lên bài hát Thánh Thể của Chúa ban cho nuôi dưỡng linh hồn  và tha thứ chúng ta bằng sự hy sinh của Ngài trên Thập tự giá. Bài hát này rất có ý nghĩa nhấn mạnh sự Chúa ban ơn cho ta bằng chính mình và máu của Ngài, lời và ý nhạc thật cảm động cho ta khó quên giai điệu.      Một điều nên nhớ khi xử dụng âm nhạc Taizé: -         Nhạc Taizé chỉ hát trong sự nhóm họp cầu nguyện bình thường, khắp nơi,  không phải cho ca đoàn trình diển hay trình tấu trong buổi nhạc hội ( Concert music ) -         Nhạc Taizé cần được hướng dẫn tập dượt trước với tín hữu cho giai điệu được biết vài lần. -         Từng câu nhạc trong bài hát được lập lại nhiều lần, đừng để câu nhạc lập lại quá ít, mà phải ứng dụng giữa lời cầu nguyện và câu nhạc được      quyện vào nhau, tương đồng và không ngắt quảng. -         Giữ nhịp (tempo) điều hòa khi hát những câu hát lập lại nhiều lần. -         Muốn cho bản nhạc không nhàm chán đơn điệu, nên chọn nhiều giọng ca khác nhau có nhiều màu sắc nhiều âm vực khác nhau như giọng nữ cao (soprano)  giọng nam cao (tenor
),
giọng trung (alto) giọng thấp (base vocal) giọng thổ (barry ton) cũng như khi hòa tấu nên chia từng câu nhạc cho nhiều nhạc khí độc tấu khác nhau hợp thành cho hài hòa mỹ cảm trong từng câu ca giòng nhạc.  
-         Khi hát  giữ vững tốc độ, vì  bài hát đòi hỏi  lập đi lập  lại nhiều lần dễ buông lơi tốc độ (speed up tempo). Ðiều cần thiết có người ca trưởng dẫn nhịp để khi hát không bị lơi nhịp. Ðể  thể hiện cho đúng tinh thần của giòng nhạc Taizé, đòi hỏi ta phải theo những sự chỉ dẫn  trên, cần  tập dượt nhiều lần để tín hữu quen bài hát thì khi hát họ sẽ dễ nhập tâm và hát hay hơn, đúng nhịp, đúng giọng  để lời ca cùng lời cầu nguyện  trong không gian được quyện vào nhau dâng lên Thiên Chúa lòng suy tôn Ngài trong giờ phút  hiệp nguyện.  Nhạc Taizé là sự toàn bích đưa con người trở về bên Thiên Chúa, trở về với chính mình đã lạc mất bấy lâu nay.  Cầu xin Thiên Chúa cảm động những tâm hồn còn xa rời Chúa, chối từ Chúa được quay về nhà Cha, cõi vĩnh cửu bên Cha muôn đời.  Amen                                                                  

  Houston, Texas  

 Mùa Chay 2009 Linh Phương

GIÁO DỤC DƯƠNG CẦM TRONG CỘNG ÐỒNG VIỆT NAM TẠI HẢI NGOẠI

Tháng Chín 22nd, 2008

Tác giả:  Linh Phương     

Để Tưởng niệm Giáo Sư Âm Nhạc Phạm Thị Lạc Nhân   Trong hơn ba mươi năm qua, đọc các tạp chí giáo dục ở Hoa Kỳ, hầu như kỳ nào chúng ta cũng thấy họ nhắc đến  sự thành công của con em Việt Nam tại học đường nói riêng và Á Ðông nói chung.   Gần đây lại có một điều thật vui mừng mới là thanh thiếu niên Việt Nam bắt đầu tạo  được tên tuổi trong lãnh vực mỹ thuật, đặc biệt là giáo dục âm nhạc dương cầm.    Tôi may mắn có chút kinh nghiệm hoạt động trên hai mươi năm trong giới dương cầm bên quê hương Việt nam  và trên mười lăm năm dạy âm nhạc tại Hoa Kỳ.  Ðặc biệt là cho trẻ em Việt Nam, nên hôm nay tôi đề cập đến hai vấn đề quan trọng: thứ nhất là lợi ích của giáo dục dương cầm và vì sao chúng ta nên cho con em học âm nhạc dương cầm; thứ  hai là những nét đặc biệt về giáo dục dương cầm trong cộng đồng Việt Nam.   Nguyệt san Good Housekeeping có mở một cuộc điều nghiên trong các gia đình người Mỹ:  - Trong 100 bà mẹ có 74 bà muốn cho con cái được học nhạc. Trong số những người muốn học nhạc, thì có 85 bà đã chọn dương cầm cho con mình.   Ở Mỹ, cứ ba nóc nhà thì một nhà có đàn dương cầm, và con số những người tiếc là lúc nhỏ không được học dương cầm nhiều gấp mười lần những người biết đàn.  Ngày xưa, học âm nhạc là một việc phù phiếm  nhưng cái trào lưu học âm nhạc bên Âu Châu từ ba bốn trăm năm nay càng ngày càng bành trướng mạnh.   Nguyên nhân nào đã tạo trào lưu trên ?    Người Âu Châu nói : Âm nhạc làm cho phong tục thuần hậu hơn (la musique adoucit les moeur). Ði vào chi tiết, các nhà giáo dục đã khám phá rằng giáo dục âm nhạc ảnh hưởng trên cơ thể, trên tinh thần trên linh giác của mọi cá nhân và từ đó lan rộng trong cộng đồng xã hội. 

   Phân tích cho kỹ, trước tiên là vấn đề tập luyện thể chất.

 Học dương cầm buộc nhạc sinh phải chuyên tâm, phải luyện trí nhớ, luyện cách nhận diện nốt nhạc (thị giác) và nghe đúng nốt nhạc (thính giác) truyền thông với phím đàn (xúc giác); vô tình người học đàn dương cầm mỗi ngày phải đều đặn huấn luyện cơ thể như là một người chuẩn bị đi thi tại thế vận hội.    Cơ thể phải mạnh để giúp cho việc huấn luyện tinh thần mà người học dương cầm mỗi ngày phải theo đúng khuôn thước, trước tiên là kỹ luật.   Học để đàn được một khúc nhạc trên dương cầm thoạt tiên nhạc sinh phải theo được và theo đúng các đòi hỏi căn bản về cách ngồi, cách dùng tay chân, cách đọc, cách nghe, cách hiểu. Vô tình em nhỏ học dương cầm tự ép buộc mình vào kỷ luật, và em thấy rõ rằng  nếu không làm theo là thất bại ngay. Ðàn dương cầm không phải cần chỉ khéo tay và học thuộc nhạc, và quan trọng hơn nữa là phải hiểu nhạc. Từ đó người ấy  mới khắc phục khó khăn để đàn hết bản nhạc và đàn đi đàn lại nhiều lần, có thể cả trăm lần cho thuộc hơn, cho hay hơn. Do đó  mà nảy sinh ra cái ý muốn hướng về chính xác và hoàn mỹ. Thế cho nên nhờ học nhạc, nhất là âm nhạc dương cầm mà thiếu niên tại học đường, thanh tráng niên trong xã hội dễ thành công trong việc học vấn và trên đường sự nghiệp, và nhất là dễ hòa đồng dễ kết hợp với người khác.    Giáo dục dương cầm giúp thanh thiếu niên rèn luyện đức tính và biết cách xử thế, các đức tính này nảy nở trong em trẻ học dương cầm từ lúc bé sẽ đi theo em suốt đời.  Vì thế em sẽ dễ thành công trong sự nghiệp sau này.  Trẻ em được huấn luyện về dương cầm sẽ có nhiều nghị lực nắm vững vấn đề, em có nhiều tự tin hơn khi hữu sự. Do đó mà ít khi có trường hợp nào có một em bé ham học đàn mà lại học dỡ, một thanh niên chuộng nhạc mà lại thất bại trong công việc làm.    Ðến đây ta chỉ nói những lợi ích thực tế, còn có một điều lợi ích vô cùng quan trọng, giáo dục dương cầm đem lại cho mọi người, đặc biệt là cho người lớn, đấy là thú tiêu khiển tinh thần phong phú vô cùng quí giá.  Có những người lớn khi đến lớp học nhạc, vài phút đầu tinh thần rất là căng thẳng, ưu tư nhưng khi hết giờ ra về, chúng ta nhìn thấy nét mặt họ có vẻ mất điều âu lo vì âm nhạc đã làm con người lấy đi sự căng thẳng đè nặng trong tâm hồn dù không dễ gì ai cũng làm thơ được, không dễ gì làm họa sĩ hay điêu khắc, họ phải có khiếu và sáng tạo nữa.    Cây đàn dương cầm hiện nay ở ngoài thị trường nằm trong tầm tay của mọi gia đình trung lưu, học đàn dương cầm cũng không phải khó khăn và chỉ cố gắng đôi tháng, các phần thưởng tinh thần để tiêu khiển sẽ đền bù gấp trăm lần sự cố gắng mua một cây đàn và học nhạc mỗi ngày vài chốc lát. Ðó là chưa nói đến điều lợi ích cao quí và thiêng liêng mà giáo dục dương cầm đem lại cho mọi người có ý muốn sống hướng thiện, hướng mỹ.    Trong phạm vi hạn hẹp của bài viết này, khó cho người viết khảo sát đủ mọi mặt vấn đề giáo dục dương cầm. Tôi muốn bàn đến điểm thứ hai là việc giáo dục dương cầm trong cộng đồng người Việt chúng ta tại Hoa Kỳ. Cho đến nay, chưa có một người nào trong lãnh vực âm nhạc khảo sát tường tận về người Việt chúng ta học nhạc dương cầm Tây Phương,  chúng ta không có tài liệu nào xác thực để thảo luận. Một cách trình bày vấn đề cho rộng đường dư luận là so sánh người Việt học dương cầm với người Tây Phương và đặc biệt người Á Ðông để từ đó chúng ta nhận diện ưu khuyết điểm, có một vài nhận định để chúng ta cùng suy nghĩ.  Trước tiên, chúng ta nhận rõ ra một thành kiến là con em chúng ta không so sánh được trong phạm vi giáo dục âm nhạc Tây Phương với các dân tộc gốc Tây phương đã có truyền thống học dương cầm bao nhiêu thế hệ trước.    Hơn mười thế kỷ thấm nhuần âm nhạc tôn giáo trong thánh đường mới sản xuất ra được âm nhạc hành lễ của nhạc sư J.S. Bach. Tài đánh đàn của ông Bach được tạo nên vì cha truyền con nối bao nhiêu năm sống trong nhà thờ.  Phải có một tâm hồn đặc biệt phong phú như đại nhạc sư Beethoven lúc sống trong những điều kiện xã hội  lựa chọn, hướng về nghệ thuật tại Âu Châu vào thời kỳ hưng thịnh của chế độ quân chủ và cách mạng kỹ nghệ ở thế kỷ 18, 19 mới làm ra được các bài nhạc dương cầm lưu truyền muôn đời. Và để đánh đàn hay như Beethoven lúc sinh thời.   Tuy nhiên, những điều mặc cảm này tiêu tan khi ta nhìn qua thanh thiếu niên Trung Hoa, Nhật Bản và Ðại Hàn. Trong khoảng ba mươi năm gần đây người Á Ðông đã đạt rất nhiều các giải thường dương cầm cổ điền Tây Phương. Nếu chúng ta có dịp đi quan sát các kỳ tuyển lựa nhạc sinh dương cầm tại Hoa Kỳ, ta sẽ thấy đa số thí sinh và rất nhiều người được tuyển chọn là người Á Ðông.  Cách giải thích hợp lý là âm nhạc Tây Phương cũng hò
a hợp với tâm hồn Á Ðông vì con người là muôn thuở ở mọi nơi vẫn là một.
   Cách giải thích thứ hai là sự vươn lên quyết tâm khắc phục khó khăn của người Á Ðông sống trong xã hội Hoa Kỳ.    Người Việt Nam chúng ta so sánh với người Trung Hoa, Nhật Bản, Ðại Hàn lại có một điểm lợi lớn là chúng ta quen thuộc nhiều với Tây Phương qua 100 năm chung sống với người Pháp. Nếu muốn hoà hợp và cảm thông với Tây Phương, chúng ta vẫn tránh được nhiều nhịp cầu khó khăn lúc đầu. Các điểm lợi nói trên tiếc thay thường bị một số điểm bất lợi làm tiêu tan. Ðiểm bất lợi rõ ràng nhất là các bà mẹ Việt Nam thường cố gắng cho con học đàn dương cầm không phải nhắm hướng vào các điều ích lợi về lâu dài và có tính cách cao sâu mà người viết đã đề cập trên đây, nhưng các phụ huynh nhiều lúc chỉ nhắm vào cho con em trình diễn.    Trình diễn trước công chúng rất có lợi, vì khích lệ cho trẻ em và tập cho con em mạnh dạn trước đám đông, trước khán giả. Ðó cũng là một điều khích lệ, một niềm hãnh diện cho phụ huynh đã chịu đựng hy sinh lớn cho con cái học dương cầm nhất là khi em bé hay cô cậu thanh niên có năng khiếu có tài. Nhưng chú trọng quá nhiều vào việc trình diễn sẽ có hại về lâu dài cho việc học đàn của con em.    Các cuộc trình diễn  tuyển lựa nhạc sinh thường có tính cách định kỳ.  Muốn tham dự, nhạc sinh phải học nhiều và học mau cho kịp thời gian.  Vì vậy, bắt trẻ em ráng sức quá nhiều để tập đàn, vừa phải học các bài vở tại nhà trường,  vì thế, các em đã  bỏ qua một số qui tắc giáo phạm quan trọng: phải đi từng bước, từng giai đoạn. Ngoài ra, ta phải nghĩ đến một số trẻ em có bản tánh nhát sợ quần chúng, bắt chúng phải trình diễn làm cho chúng sợ không chịu học đàn nữa.    Trong kinh nghiệm dạy dương cầm khá lâu của tôi, người viết đã thấy trường hợp em bé có năng khiếu học đàn mà vì bị phụ huynh ép buộc phải sớm trình diễn, em đã phản ứng lại bằng cách bỏ đàn. Ðó là chưa nói đến vài phụ huynh vì quá nóng lòng cho con trình diễn rồi họ thất vọng vì kết quả kém xuất sắc của con em đã làm gián đoạn việc học đàn của con.     Ðiểm bất lợi thứ hai là cái quan niệm giáo dục của các bà mẹ Việt Nam cố gắng làm việc đài thọ học phí cho con em học đàn và ngồi chờ. Sự thật là trẻ em học dương cầm cũng như học chữ cần nhất là sự giúp đỡ của cha mẹ. Tôi không nói đến trường hợp của vài bà mẹ tha thiết với việc học của con đến độ cũng ghi tên học để dạy con. Nhưng sự đóng góp có nhiều cách.  Học dương cầm thường bắt đầu rất sớm, bà mẹ Việt Nam có thể dìu dắt con từng bước lúc đầu và chắc không có một phần thưởng tinh thần nào đẹp hơn là thấy con tiến bộ từng ngày. Lớn hơn nữa, học đàn gần mẹ càng làm thắt chặt hơn tình mẫu tử, càng tạo cơ hội cho hoà hợp tâm hồn.    Tôi biết là phần đông các gia đình Việt Nam chúng ta đang vật lộn với đời sống, thì giờ đâu mà đi học đàn để dạy cho con học, hoặc là suốt buổi ngồi canh cho học đàn nhưng tôi nghĩ là vấn đề nên đặt ra sớm để chúng ta nghĩ sớm. Muốn cho con em học đàn, phụ huynh phải cộng tác với giáo sư. Nguyên tắc căn bản về giáo phạm này càng phải được áp dụng trong giáo dục dương cầm.    Điểm bất lợi cuối cùng là quan niệm giáo dục dương cầm của gia đình Việt Nam chúng ta nói chung, nhiều bậc cha mẹ cho rằng vì  học đàn quá tốn kém nên phải thúc đẩy đứa trẻ thành công sống với nghề đàn. Trong một khuynh hướng khác phụ huynh cho rằng con em mình học đàn cho vui, họ xem phòng dạy dương cầm như là một nhà giữ trẻ.    Trong trường hợp thứ nhất, phải nhận thức là một trăm người học đàn, hoạ hoằn lắm chỉ có một người  sống với nghề đàn, tuy phần thưởng tinh thần vô giá, nhưng quyền lợi vật chất không là bao, chỉ có một số người kiên tâm chấp nhận hy sinh cho nghệ thuật mới có can đảm đi tới cùng.   Trường hợp thứ hai ta phải thức tỉnh các bậc phụ huynh sớm. Học dương cầm sớm  lại rất nhiều lợi ích cho con em và ngay cho chúng ta.  Ngay cả nhiều người chỉ được học có ba năm rồi vì hoàn cảnh phải bỏ, cũng nhận thức sự lợi ích theo mình suốt đời.    Giáo dục dương cầm là phần căn bản của giáo dục âm nhạc, và nhạc là một phần không thể thiếu được trong sinh hoạt toàn diện của xã hội Tây Phương.  Nếu chúng ta, cộng đồng Việt Nam, muốn được kết nạp hoàn toàn và đồng hóa trong xã hội mới đã cưu mang, chúng ta không thể quên cái điều thật quan trọng này!  

NHỮNG ÐIỀU CẦN BIẾT về ÐÀN DƯƠNG CẦM (PIANO)

Tháng Chín 22nd, 2008

Linh Phương & Nguyễn Túc Sưu tầm Ðã đến lúc bạn cần sắm một  đàn dương cầm cho chính mình hoặc cho con em để tập đàn hàng ngày. Hơn nữa, đàn dương cầm còn là một  trang trí đặc biệt đặt ở phòng khách lịch sự trong căn nhà mới. Thật vậy, không nói đến việc mua đàn cũ, đàn piano mới khá đắt tiền tùy theo loại: Từ 3000 Mỹ kim cho tới đàn nổi tiếng như Steinway giá sáu, bảy mươi ngàn hoặc đến cả trăm ngàn Mỹ kim, tuỳ theo cở lớn nhỏ Baby Grand đến Grand Piano hoặc loại thật dài để trình tấu hay hòa tấu với dàn nhạc lớn. Loại đàn Steinway nầy càng lâu năm càng đắc tiền, vì do thời gian nuôi dưỡng và kỹ thuật tạo nên. Sau đây, người việt sơ lược cái trình tự làm đàn dương cầm để chúng ta hiểu cách tạo một đàn vô cùng  công phu như thế nào.  Trước hết người ta trồng cây và nuôi cây trên khoảng đất riêng đặc biệt từ 10 đến 20 năm. Cây trồng càng lâu thì tiếng đàn mới có giá trị khi họ làm thùng đàn, tùy theo loại gỗ như cây bằng, cây trắc, cây lim. Có đàn phải nuôi cây đến ba bốn mươi năm như loại đàn Âu Châu  Pleyel của Pháp, Hansen,  Balwin, vì có  trải qua thời gian đến mấy mươi năm sau mà tiếng đàn vẫn thanh tao, thùng đàn vẫn tốt, cây không bị mối mọt ăn. Sau khi đốn gỗ về, họ đo kích thước xẻ cây từng mãnh theo hình dáng cây đàn. Sau khi xẻ , họ đem gỗ nhuộm  trong một cái hồ lớn có nước thuốc pha mầu tùy theo loại, và có một cần trục mang tấm gỗ lên phơi nắng chiều chứ không phơi buổi nắng gắt vì sợ gỗ nứt nẽ. Những cây gỗ quí thường nhuộm lâu từ ba đến sáu tháng, có khi đến một năm. Và mồi tuần họ thăm gỗ xem màu nhuộm thế nào. Trong một chuyến đi trình diễn độc tấu dương cầm tại Đức, người viết có dịp đến thăm xưởng làm đàn Piano ở Lefzig  Ðức Quốc, đi thăm rừng nơi họ trồng cây, nuôi cây, và xem họ mang gỗ về xưởng nhuộm và cách làm từng thanh búa gỏ vào dây đàn kỹ lưỡng và tỉ mỉ. Phím đàn ngày xưa, hay sáu bảy mươi năm về trước thường làm bằng ngà voi. Sau này, họ dùng Formica màu trắng thay cho phím ngà.  Ngày nay, nếu ai có  đàn dương cầm với phím ngà, giờ đây nếu bán đàn sẽ rất có giá. Khi căng dây đàn, họ  có máy đo chính xác âm thanh đề âm ba cho đúng cao độ. Máy đo âm thanh hiện đại bây giờ là nhờ máy điện toán nhưng ngày xưa thì nhờ bằng đôi tai của ông thợ lên dây đàn.  Vào thế kỷ XX, năm 1903 ông Schermann đã sáng tạo máy nghe âm thanh gồm có một nốt chuẩn là nốt La (A). Ðó là một thanh sắt nhỏ gỏ vào gỗ phát ra tiếng động ta gọi là Diapasion cũng như ông cũng sáng chế máy đánh nhịp (Metronome). Ngày xưa,  khi làm búa gỏ vào dây đàn, người thợ dùng cưa rất nhỏ và cưa bằng tay, cũng phải khéo léo, nếu vụng về thì miếng gỗ nứt, khi  đánh vào dây tiếng đàn sẽ nghe lụp cụp, miếng gỗ phải chắc chắn khi chạm vào dây đàn. Người làm đàn họ tính toán phím đàn đánh vào thanh búa  khoảng bao nhiêu triệu lần là phải thay dàn búa. Bây giờ giãn dị hơn,  dàn búa cưa bằng máy có kích thước sẵn, cũng như sườn đàn không ráp bằng đồng hay bằng gang, mà họ ráp  bằng gỗ và sơn nuớc bóng lên, rồi quét thêm lên một thứ nước để ngừa mối mọt. Gỗ nhuộm đúng tuổi,  tiếng đàn rất hay âm thanh dày ấm, nếu gỗ nhuộm non, tiếng đàn không dày đủ và không ấm, cho nên tùy theo loại đàn mà giá tiền đắt, rẽ là vậy. Sườn đàn ngày xưa chắc và nặng, họ làm bằng đồng, hay bằng gang, lúc khiêng rất nặng. Thường phải năm  sáu người khỏe mạnh mới di chuyển nổi cây đàn. Thời đại Danh sư Chopin, nhà làm đàn Pleyel dành đặc biệt cho Chopin một đàn piano gỗ trổng trên 30 năm, nên danh sư  này đi đâu cũng chỉ thích trình tấu nhạc bằng hiệu đàn Pleyel này; kể cả khi ông ra ngoài đảo Majorca sống với người yêu George Sand, ông cũng đã mang  đàn theo. Vì thế,  hậu sinh mới có bộ tác phẩm Etude tuyệt vời mà Chopin đã sáng tác lúc đó. Hiệu đàn Piano được dùng trong những lâu đài hay những căn nhà quí phái, giàu có sang trọng khi có tổ chức nhạc cho hòa tấu hay độc tấu hoặc cho ca hát, hoặc cho nhạc kịch. Vào thời kỳ phim câm chưa có lồng tiếng nói, người ta cũng nhờ  đàn piano đề làm nền cho phim diễn đạt những diễn biến trong chuyện phim rất hiệu quả, người xem hiểu được diễn tiến trong cốt chuyện, vì đàn piano có thanh âm diễn tả ngôn ngữ và tiết tấu rất rộng rãi.  Cho đến nay, hiệu đàn Pleyel đã mai một theo thời gian nhưng tên tuổi cây đàn vẫn mãi mãi không quên trong giới đàn dương cầm… Sau Thế chiến II, nước Nhật đã vươn lên, chánh quyền đã cho sinh viên du học nước ngoài như tại Đức, Pháp để học làm đàn. Họ  khéo biết nắm tâm lý quần chúng và làm kiểu đàn gọn, nhẹ cho những căn nhà nhỏ, bên cạnh đó họ vẽ kiểu  >theo khiếu thẩm mỹ của mỗi quốc gia,  nên piano có tên Yamaha đã làm chủ thị trường khoảng trên 50 năm qua. Tuy vậy, đàn Yamaha vẫn không qua mặt nổi piano hiệu Steinway của Mỹ, vì tính chất lâu bền, âm thanh hay, và những chi tiết của cây đàn ăn đứt piano của Nhật, đàn này càng lâu năm thì âm thanh càng tuyệt vời.  Một cây đàn Upright loại đứng của Steinway dù hai chục hay hai mươi lăm năm mà giá 20 mươi  ngàn Mỹ kim  là thường, và người kén đàn, khi bàn tay đã chạm qua cây đàn Steinway là không muốn đàn cây đàn hiệu nào nữa ngoài Steinway  hoặc khi người đã đàn qua Grand Piano là không muốn đàn loại nhỏ Upright nữa. Tại Việt Nam, người viết  vẫn còn nhớ thời Việt Nam Cộng Hoà do Tổng thống Ngô Ðình Diệm lãnh đạo, khi xảy ra cuộc đảo chánh tháng 11 năm 1963,    dân chúng lúc đó tức giận chế độ Ngô Đình Diệm,  họ đã mang  những đồ đạc trong Dinh ra đập phá một cách vô ý thức, ngu xuẩn; trong đó có một cây đàn Baby Grand Pleyel  đắt  giá với  phím đàn bằng ngà voi rất quí,  cạnh đàn thì mạ vàng, chân đàn chạm trổ công phu cũng đã bị người ta  lấy búa đập nát cây đàn. Lúc ấy khi đã khuya, đường phố vắng lặng, sau một ngày hò hét, đập phá và bỏ đi, tất cả chỉ còn lại một bãi rác, chính tôi đã bước giữa ngã tư đường gần Dinh Gia Long nhìn cây đàn bị vỡ nát mà rưng rưng nước mắt.   Tôi đã lượm những mãnh búa gỗ, cùng phím ngà đã rớt ra ngoài, gom góp những sợi dây đàn tua tủa với lòng tiếc nuối.  Vì niềm mơ ước của tôi là có một cây đàn tốt để học như con của Bà  Ngô Ðình Nhu là cô Ngô Ðình Lệ Thủy nhưng  không bao giờ được hân hạnh có. Đến năm 1975, bọn Cộng Sản ngớ ngẫn, dốt nát  từ rừng rú vào thành phố Sài Gòn. Tháng 12  mùa đông  năm đó rất lạnh, chúng ngu muội  lấy những  đàn piano hiệu Yamaha của chủ nhà bỏ đi  ra nước ngoài mang đi chẻ nát làm cũi để  sưởi. Chúng bảo đó là tàn tích của Mỹ Ngụy và bọn chúng đã phá nát không tiếc thương.   Những tháng năm sau đó,  mỗi tuần chúng đã chở cả trăm đàn piano hiệu Yamaha lên tàu ra Hà Nội, và chúng mang nhiều đàn piano khác nữa lên tàu để trả nợ cho Liên Sô lúc đó. Chỉ có những người yêu đàn mới thông hiểu sự tan nát khi nhìn thấy cảnh đau lòng như trên…                                        

Tản Mạn Về Nhạc Độc Tấu Không Lời (Music Without Words)

Tháng Tám 18th, 2008

 

 Tác giả:   Nhạc sĩ Nguyễn Quang Trung  

Quần chúng ở thế kỷ 21 trong thời đại văn minh cơ khí này không còn rảnh rỗi để thưởng thức những bài bản âm thanh dài lê thê với loại sáng tác và trình tấu đầy tính bác học nữa.  Họ chỉ chuộng những bài bản ngắn.   Sau thời kỳ nhạc bán cổ điển có lời hát, người ta tìm ra một đường hướng mới chuyên viết những ca khúc với nhạc và lời xuất xứ từ sáng tạo, không nệ cổ như thời bán cổ điển.

 

Những ca khúc theo thể loại này lại lớn mạnh nhanh chóng, khắp nơi niềm nở chào đón. Dòng sông âm nhạc lại rẽ nhánh khác, đáp ứng tinh thần và hoàn cảnh của người hiện đại trong suốt chiều dài của thế kỷ 20.  Sở dĩ những ca khúc như thế đã dễ dàng được người đời ưa chuộng, vì ngoài sự ngắn gọn  so với nhạc cổ điển, những ca khúc này lại còn có tính cách trực tiếp đi thẳng vào vấn đề như một định lý toán học, nét nhạc tức giai điệu ( Melody), và lời hát phải xứng hợp, rồi cũng vì đó sinh ra sự ràng buộc khó tháo gỡ, và chính sở trường của ca khúc lại trở thành sở đoản chính nó.

 

Lấy một ví dụ:  Vì cố gắng sáng tác nhạc để xứng hợp với lời nên bản nhạc đôi khi sinh ra gượng ép, trắc trở; vì lệ thuộc vào lời nội dung,  lời ca hay phổ nhạc vào thơ nên nét nhạc trở nên thô kệch, vụng về.  Ở mổi thể loại loại sáng tác hay để trình tấu đều có những khó khăn đặc biệt của nó. Ca khúc đang ở thế thượng phong (tính thời trang) nhưng tìm được một ca khúc hay, nhạc và lời xứng hợp gắn bó không phải là một chuyện dễ.  Ða số những ca khúc này xấp xỉ một bài hay trong một ngàn

bài dỡ. Ca khúc cũng như mọi thứ trên đời đều bị thời gian bào mòn, soi thủng nên trong muôn một được người đời truyền tụng, kế thừa, hẳn đó là những công trình bất tử.

  

Hai tiếng bất tử không do người làm ra một tác phẩm tự phong, mà chính giá trị  cưu mang của nó hợp với sự thẩm định của người đời.  Thời nào cũng thế, ai cũng công nhận cái giá trị đó.  Như đã nói ca khúc chuyên chở lời hát và giai điệu, nếu tách rời một trong hai, ca khúc mất đi hiệu quả.  Tuy nhiên, cũng có những ca khúc quen thuộc, chỉ nghe nét nhạc, người ta cũng vẫn hát theo được những lời hát của bản nhạc ấy hoặc đọc một vài câu thơ, một đoạn văn, người ta vẫn nhớ ngay được giai điệu bài nhạc, ví dụ qua những bài thơ nổi danh được phổ nhạc.

 

Ca khúc mang tính cầu toàn đòi hỏi cho bằng được lời hát và giai điệu nhưng qua những ngón tay ngọc của nữ nhạc sĩ dương cầm Linh Phương, những ca khúc Việt bất tử qua các CD Mưa Tình – Mưa Lệ – Mưa Tuơng Tư – Mưa Dĩ Vãng – Mưa Hoàng Hôn, Về Miền Trung, Suối Mơ v.v… quả không cần phải có lời ca trợ thủ đắc lực nữa.

  

Âm nhạc vốn là một ngôn ngữ quốc tế, ngôn ngữ của trái tim dễ vỡ. Thật ra âm nhạc không cần phải có lời hát như quan niệm tiền nhân mấy ngàn năm về trước đã dẫn ở trên như đa số các bài bản âm nhạc hiện đại, mà rất cần một người diễn đạt (tức nhạc sĩ trình tấu) có thực tài và đặt trọn vẹn sự rung động của mình vào những bài bản đó.  Có thế âm nhạc mới đi vào lòng người ở khắp mọi nơi.

 

Cuối thế kỷ 20 gọi văn hoa là chiều thế kỷ, cũng như thế kỷ 21 chúng ta đang sống, nhạc độc tấu (solo) hay nhạc hòa tấu ( instruments) rất ít thực hiện.  Nhìn vào các quầy, tiệm bán hàng dĩa nhạc Âu Mỹ, ta thấy thể loại instrumental chiếm một vị trí khiêm nhường, chỉ độ 2% tổng số có khi ít hơn nữa số lượng dĩa nhạc CD.   Bởì vì nhạc không lời này độc tấu và hòa tấu như đã nói rất chọn lọc người nghe.  Không phải ai cũng biết nghe nhạc không lời, vì yếu tố thẩm âm, nghệ thuật âm nhạc là yếu tố quyết định trình độ thính giả. Giới hạn tầm nhìn về loại băng đĩa nhạc không lời do các nhạc sĩ Việt Nam thực hiện ở hải ngoại ta cũng thấy số lượng cũng ít oi, hiếm quí những cái hay, độc đáo.

  

Bên cạnh những tác phẩm sõi đá thô xám là những viên ngọc ngời chói trong thể loại nhạc độc tấu hay hoà tấu của Ðồ Ðình Phương (Guitar solo) Thanh Lâm (Saxophone Alto) Nhất Lý (Trumpet) Lê Ðức Cường (Guitar solo) Ðặng Nho (Clarinet) Phạm Mạnh Ðạt (Hạ Uy Cầm) Hoàng Thi Thao (Violin) v.v… Còn có một số nhạc sĩ khác cũng đã thực hiện các băng đĩa nhạc hoà tấu với nhiều nhạc khí kể trên nhưng phẩm chất nghệ thuật chưa đạt được tiêu chuẩn trung bình.

   

Về nhạc không lời, nhạc độc tấu, nhạc hoà tấu với nhạc khí chủ lực là Piano (nhạc khí chính) ta thấy số lượng các nhạc sĩ đã thực hiện có thể nói là như trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng.  Nhạc sĩ ngoạI quốc cũng có thực hiện những tác phẩm Việt Nam như các nhạc sĩ khoa bảng Sasha Alexeev người Nga với dĩa Midnight Serenade đàn những bài Tiếng Thời Gian, Ngọc Lan, Ðêm Ðông v.v… đến cô Opel-Mocardini III đàn những bài Biển Nhớ, Nỗi Niềm, Gọi Người Yêu Dấu chơi nhạc theo phong cách Jazz thì có nhạc sĩ dương cấm John Seppais đàn những bài như Hoa Biển, Xóm Ðêm, Dạ Khúc Cho Tình Nhân…

 

Riêng nữ nhạc sĩ Linh Phương, chị có phong cách riêng, tiếng đàn của chị rất đằm thắm, nhẹ nhàng, sâu lắng và hồn nhạc quyện vào tâm tình qua ngôn ngữ âm nhạc, qua ngón đàn chị sử dụng rất tâm đắc và chính xác.  Có thể nói Linh Phương đã trang điểm làm đẹp nhạc phẩm do các nhạc sĩ Việt Nam viết, hoài bảo của chị là gìn vàng giữ ngọc những nhạc phẩm Việt Nam không để mai một theo thời gian.  Những CD chị thực hiện như  Mưa Tình – Mưa Lệ – Mưa Tuơng Tư – Mưa Dĩ Vãng – Mưa Hoàng Hôn, Về Miền Trung, Suối Mơ v.v… gồm toàn những nhạc phẩm hay, khó quên theo thời gian. Chị tự biên soạn hòa  âm và trình diễn cũng như đi khắp nơi trên thế giới đem tiếng đàn phả vào lòng người sự ấm cúng cho vơi đi nỗi niềm riêng.

 

Những CD chị Linh Phương đã thực hiện như đóng góp trong kho tàng âm nhạc Việt Nam không lời, chị Linh Phương đã  khiêm tốn nói rằng “Cuộc đời tôi sống chết với âm nhạc, tôi không mong mõi gì hết;  chỉ mong mình còn sức để tiếp tục nghệ thuật, là người quản thủ thư viện nhạc Việt, để nhạc Việt Nam luôn được trân trọng luyến nhớ mỗi khi dòng nhạc được cất lên, được thổn thức với thanh âm, gợi lại đất nước chúng ta, gợi lại kỷ niệm và sắc thái nhạc Việt đẹp đẽ, đằm thắm, dịu dàng như người Việt chúng ta…”   

Nhạc sĩ Nguyễn Quang Trung

Florida

   

MỘT MỐI TÌNH LỚN ÐẸP KHI CÒN DANG DỠ

Tháng Tám 18th, 2008

Linh Phương  Nói về nhạc sĩ nổi danh Chopin,  Linh Phương xin kể trước một chuyện vui: Trong bản nhạc đặc sắc “Tiềng Dương Cầm” của cố nhạc sĩ Văn Phụng có nhắc đến tên đại nhạc sĩ Chopin trong một câu ca:  “Người ơi !  Còn nhớ CHOPIN ngày xưa vì ai dệt nên câu nhạc lâm ly…”  Những bạn Việt thích hát đâu phải ai cũng biết lịch sử âm nhạc, nên có người đã hát tên ông SÔ PANH (Chopin) theo vần Việt Nam thành ra SÔ PIN !   FREDERICK FRANCOIS CHOPIN (1810-1849) Frederick Francois Chopin trong thế kỷ thứ 19 đã được mệnh danh là THI SĨ CỦA DƯƠNG CẦM, vì nhạc phẩm của ông đã mang lại những nét thơ mộng cho Phong trào Lãng mạn (Romantism) đang được ưa chuộng trong thời kỳ đó với nhạc cụ Piano. Chopin đã đi vào huyền sử của thế giới âm nhạc, không những chỉ là một nhạc sĩ thiên tài, ông còn là người hùng, một con ngườI vĩ đại của nước Ba Lan đến mức tên tuổi của ông gắn liền với đất nước. Chopin sinh ngày 1 tháng 3 năm 1810 ở một xóm làng nhỏ Zelazowa về phía Tây thành phố Vacsovie. Cha của ông là người Pháp từ vùng Lorraine sang Ba Lan lập nghiệp và đã chọn nơi này làm quê hương.   Chopin có khiếu về âm nhạc từ nhỏ, nhưng mãi đến năm lên bảy mới bắt đầu được học thầy.  Chopin được học tại Âm nhạc viện Conservatory of Warsaw mới thành lập. Cậu bé nhạc sĩ thường tìm hiểu nhạc và tập đàn dương cầm; nhiều khi tùy hứng, cậu đã đàn thành bản nhạc riêng của chính mình sáng tác ra.  Và thiên tài âm nhạc Chopin mỗi ngày một tiến. Vào tuổi thanh niên chàng đã tốt nghiệp Viện âm nhạc Varsovie và tiếng tăm Chopin lừng lẫy khắp nơi. Nhạc sĩ đã có dịp được đi trình tấu dương cầm ở trong triều đình Nga hoàng và nhiều nơi khác như Paris (Pháp) London (Anh) và sang Hoa Kỳ.  Nhất là ở Pháp, nơi mà ông có nhiều liên hệ tình cảm nhất. CHOPIN YÊU QUÊ HƯƠNG Lần đầu tiên khi rời Warsaw  là quê hương,  ông đi lập nghiệp ở Pháp, trong buổi tiệc tiển hành do bạn bè tổ chức, Chopin đã không cầm được lệ, và nói rằng sẽ chẳng bao giờ được nhìn lại quê cha đất tổ nữa.  Sau đó, ông được tin có cuộc cách mạng lật đổ vua, và ông có linh cảm là gia đình và bạn bè sẽ bị giết. Người ta nhận thấy nỗi buồn cùng cực trong nhạc phẩm Revolutionary của ông. Ðến Paris năm 1831, Chopin được người bạn đồng hương là Hoàng tử Radziwill giới thiệu với giới quí phái, nhiều nhạc sĩ tiếng tăm như Liszt, Berlioz, Rossini, Mayerbeer, và cả văn sĩ nổi danh như: Victor Hugo, Balzac, Lamartine, George Sand, Alfred de Musset, Alexandre Dumas… Ông thấy đời sống nghệ thuật ở Paris thích hợp với phong trào Lãng mạn mới nổi và được yêu chuộng trong thời gian đó, và những điều ấy đã cho Chopin nhiều hưng phấn trong đời sáng tác nhạc của ông.Ông đã viết nhiếu nhạc phẩm trong cuộc tình duyên tám năm với nữ văn sĩ nổi danh George Sand, một thiếu phụ có đôi mắt huyền, một nữ văn sĩ tài danh thế giới lấy biệt danh là George  Sand. Khi cuộc tình nổi tiếng của hai người bắt đầu, George Sand 34 tuổi, và Chopin 28 tuổi. Tính tình bà Sand nhanh nhẹn và thích chỉ huy người khác, còn Chopin thì ngược lại.  Tài sáng tác của ông thật lạ lùng đến chờp nhoáng không cần một cố gắng nào cả.  Nhưng có khi ông đóng cửa ở trong phòng hằng ngày để sửa chữa, viết đi viết lại một câu nhạc, và có thể ông đã bỏ ra 6 tuần lể để hoàn tất mới chỉ là bản thảo một trang nhạc do ông viết… Nhắc lại trong thời gian ở Viện Âm nhạc Vacsovie (1826) Chopin đã quen biết một thiếu nữ đẹp, một ca sĩ cùng trường tên là Konstancja Gladkowska. Nàng vừa đẹp vừa dịu hiền đã gợi hứng cho ông sáng tác nhạc phẩm Adagio trong tập Concerto nổi danh. Chàng thì rất si mê nàng nhưng nàng thì không đáp lại tình yêu của chàng một chút mảy may. Mối tình một chiều đã khiến chàng rất đau khổ, và nỗi đau này đã được thể hiện rõ ràng vào những cung nhạc kỹ thuật trình tấu tuyệt vời.  Nhất là trong thời gian Chopin qua Paris, trong những buổi trình diễn dương cầm ở thính phòng Pleyel nghe Chopin đàn, tất cả các nhạc sĩ Pháp đều sững sốt khâm phục.  Ngay đến cả  nhạc sĩ đại tài đương thời như Liszt cũng phải khen ngợi về cách diễn tả bản nhạc với hai bàn tay điêu luyện bậc thầy của Chopin.   Học phí lớp dạy đàn của Chopin ở Paris là hai mươi quan tiền cho mỗi nhạc sinh mỗi lần. Mỗi ngày ông thường dạy năm lần, vì thế ông đã trở nên giàu có vào khoảng năm ông hai mươi hai tuổi, ông đã có thể dọn đến ở những căn nhà sang trọng (1832). Ông kết bạn với nhiều nhạc sĩ thời danh đại tài như Berlior, Liszt, Mendelsohn và
Schumann.
    Một người tài hoa phong nhã bề ngoài nhưng bề trong thể chất của Chopin thật yếu đuối.  Cứ vào mỗi mùa đông là Chopin hay bị cảm cúm nằm liệt giường, vắng bóng nhiều ngày đến nỗi có người đồn rằng ông đã chết.  Vào thời điểm này Chopin quen với gia đình họ Wodzinsk. Cô con gái tên Maria đã được nhạc sĩ chú ý và muốn xin cưới nàng, nhưng gia đình thấy Chopin vóc dáng yếu đuối quá nên cũng không muốn gả con gái cho chàng.   Thế nhưng rồi năng đi lại với thiện ý xây dựng, Maria cũng có ít nhiều cảm tình với nhạc sĩ tài ba Chopin nên ông bà Wodzinski đã chấp nhận cho đôi trẻ đính hôn.   Tuy nhiên, cuộc đời tình ái Chopin không phải được dễ dàng trót lọt như ý muốn. Những lời đồn đại của thiên hạ về cuộc tình lén lút của bạn chàng là nhạc sĩ Frank Liszt với nữ công tước Marie d’Agoult; cũng như chuyện của chính Chopin với bà Pleyel đã khiến ông phải mang tai tiếng không ít. Bà Pleyel là quả phụ của nhà làm đàn Piano danh tiếng.   Danh hiệu Pleyel không những nổi tiếng ở Pháp mà còn ở khắp các Châu Âu.  Ðàn làm ở hãng Pleyl không những chắc chắn lâu bền trên trăm năm.  Họ nuôi cây gỗ quí được trồng trên 30 mươi năm. Các dây đàn giăng bén, khi đàn, các búa gọt dũa khéo léo, đánh vào các dây chính xác mà còn chống lại theo thời tiết không bị chùng dây theo thời gian, đàn đẹp về nước nhuộm cùng vóc dáng sang trọng đẹp đẽ vì thế đã được nhiều hoàng gia quí phái hay gia đình sang trọng đặt mua. Và không ngạc nhiên, Chopin được bà Pleyel ngưỡng mộ tài năng nên đã tặng cho ông một cây đàn quí có phím là những phím ngà.  Cây đàn này, ngoài võ là gỗ quí giá còn bọc thêm chút vàng mạ chung quanh nhạc cụ khiến nhạc sĩ yêu quí cây đàn, trình tấu dương cầm bất cứ nơi đâu trên sân khấu Pháp hay ra nước ngoài  cũng chở đàn theo, kể cả những năm Chopin ra ngoài đảo Majorca nước Tây Ban Nha; luôn luôn cây đàn Pleyel cũng bên cạnh nhạc sĩ, và chính cây đàn Pleyel này, ông đã sáng tác rất nhiều tác phẩm bất tử danh tiếng đến nay vẫn còn yêu mến cho những người học tập đàn Piano. Dù sau thì định mệnh đã an bài cho Chopin. Việc phải đến đã đến.  Trong những buổi trình diễn nhạc ở nhiều nơi sang trọng, Chopin đã gặp một phụ nữ của định mệnh, một nữ sĩ Pháp tài hoa từ đây sẽ làm đảo lộn cuộc đời ông.   Tên người ấy là George Sand.   George Sand tên con gái là Aurore Dupin, nàng  lớn hơn Chopin sáu tuổi, nàng  sinh năm 1804, lấy chồng năm mười tám, có hai con, một trai tên Maurice và gái là Solange.  Chồng bà tên Casimir Dudevant là một gã đàn ông tẻ nhạt, độc đoán, không bao giờ chiều chuộng và để ý đến ngườI vợ trẻ.  Gia đình này có một dinh cơ lớn như một lâu đài ở miền Nohant vùng Berry cách Paris khoảng hai trăm bốn mươi cây số. Aurore đã cố gắng chìu chuộng chồng, nhịn nhục; có khi nàng đang đàn dương cầm cũng phải ngưng ngay nếu chồng yêu cầu…   Sau chín năm chịu đựng, một ngày đẹp trời nàng Aurore đã nổi loạn và bỏ nhà lên Paris năm 1831 nàng hai mươi bảy tuổi.  Tại đây và bắt đầu thời điểm này, bà Dudevant trở thành nữ văn sĩ nổi tiếng với bút hiệu George Sand.  Tuy những tiểu thuyết và vở kịch do bà soạn có phần bị lu mờ vì tên tuổi sáng chói của những văn sĩ đương thời như Victor Hugo, Balzac, Lamartine và Stendaht, tuy nhiên, bà cũng được rất nhiều độc giả ái mộ.   George Sand là bạn rất thân với nhạc sĩ Liszt, và những người tình của ông ta; nhất là nữ công tước Marie d’Agoult.  Vào mùa thu  năm 1863, George Sand đã đến dự buổi dạ hội của nữ công tước và  nàng đã gặp Chopin ở đó.   Buổi đầu gặp gỡ chỉ là  bạn bè không để lại gì sâu đậm.  Chopin nhìn thấy nữ văn sĩ này với trang phục  quần chẽn bó sát, miệng thì ngậm điếu xì gà… Chopin hâm mộ nữ sĩ này về những tư tưởng phóng khoáng cùng cử chỉ tự nhiên của nàng, và George Sang nhận ra  Chopin là một người nhợt nhạt yếu đuối, lúc nào cũng quàng khăn quanh cổ càng thấy rõ sự tiều tụy của nhạc sĩ.  Lúc đầu, George giữ vẻ lạnh lùng thản nhiên không tỏ ra có tình ý gì với Chopin.   Tuy nhiên, đến mùa xuân 1837 khi George Sand mời Chopin và Liszt cùng Marie d’Agoult xuống chơi miền Nohant thì Chopin đã từ chối, vì lúc đó chàng có mối tương giao với gia đình hôn thê Marie Wodzinski đã không được tốt đẹp lắm, nay nếu giao du với một phụ nữ tiếng tăm quá lớn như George Sand thì cuộc hôn nhân của chàng không thể thành được mà phần đổ vỡ có phần  chắc thôi.   Thời gian này,  nữ sĩ George Sand đã chính thức ly thân với chồng và nàng được tự do để đi tìm mục đích riêng của nàng.  Nay Chopin đã cảm thấy quyến luyến với nữ sĩ lắm rồi thì tình cảm của George Sand cũng đã ngã về chàng Chopin một nhạc sĩ tài hoa.  Mặc dù nàng hiện vẫn còn lăng nhăng tình ái với một vài nghệ sĩ vô danh và nay nàng thấy chỉ có Chopin là đối tượng mà nàng phải chinh phục bằng được.    e="font-size: 12pt">Ðến mùa hè 1838, sau những dịp tấu nhạc ở trong triều đình vua Pháp vào tháng Hai và ở Roven vào tháng Ba, Chopin bắt đầu đi lại với George Sand nhiều hơn.  Lúc đó chàng đã bị gia đình Wodzinski từ hôn rồi. Nay đối với Sand, chàng cảm thấy nàng là người duy nhất mà chàng có thề bày tỏ hết được nỗi lòng yêu say đắm mà từ lâu chàng ấp ủ thầm kín…  Chẳng bao lâu, những lời đồn đại về cuộc tình giữa Chopin và George Sand lan rộng khiến hai người cảm thấy khó chịu về những lời đàm tiếu ác ý của thiên hạ, họ muốn bỏ đi xa tìm một nơi tự do hơn đế chung sống trong tình yêu.   Thật là một dịp may đã đến với họ. Nguyên do là người tình lúc đó của Sand bắn Felicieu Mallefille nghe biết Chopin và Sand đã yêu nhau, anh liền nổI ghen và bắn tin sẽ thách nhạc sĩ Chopin đấu súng.  Hơn thế nữa,  nhân dịp con trai của George bị đau thấp khớp cần phải đi đến vùng nóng ấm để chữa bệnh, Sand bèn đưa hai con xuống miền Nam trước, Chopin ở lại sắp xếp công việc đi sau.   Chàng thu thập tất cả các tác phẩm nhạc gồm có 17 bài đã sáng tác xong trong bộ hai mươi bốn bản Prelude. Chopin bán cho nhà xuất bản Fontana và vay trước một số tiền hai ngàn quan đề ra đi.  Ông tìm đến nơi ước hẹn gặp Sand ở Perpignan vùng núi Pyrenes, rồi cùng người yêu đi Barcelona, đến tỉnh Palam trên đảo Majorca thuộc nước Tây Ban Nha. Không lâu họ nhận biết  người dân trên đảo không thích người lạ. Ðời sống ở đây từ trước bình thản, người địa phương kẻ làm rượu chát, người trồng nho, kẻ đóng thùng gỗ, người làm tại hầm mỏ đồng hoặc khai thác đá hoa cương, họ sống nghèo nàn nhưng hiếm thấy có khách lạ đến đảo.  Vì thế,  Chopin và Sand đã phải sống độc lập không giao du với ai… Họ  thuê lại một căn phòng trên tầng hai của tiệm đóng thùng gỗ đựng rượu. Mỗi ngày đôi tai ho chịu nghe tiếng đóng thùng cứ vang lên đều đều khác hẵn cảnh trí sang trọng ở Paris.  Tuy nhiên, đôi tình nhân đã thấy mình thực sự được tự do vùi mình trong lạc thú yêu đương. Chopin cảm thấy yêu Sand say mê, cuồng nhiệt đến độ ghen tuông, còn Sand thì kể lại rằng chỉ yêu Chopin với mối tình chân thật dịu dàng không cuồng si điên dại. Ít lâu sau, họ tìm được một ngôi nhà riêng ở ngôi làng gần Palma nên dọn nhà ra đó. Khí hậu chỗ này thật ấm áp, tuy trời đã vào tháng 11, mà thời tiết vẫn như mùa hè như ở Paris. Vì thế sức khỏe của Chopin cũng khả quan hơn trước. Mỗi ngày chàng đã cùng người yêu và hai con tập đi bộ về đồng quê thở không khí trong lành, rồi có hôm  họ đã mạo hiễm lên tận đỉnh dốc núi ngắm cảnh biển cả mênh mông.   Từ mấy năm qua, sức khỏe của Chopin vẫn hay trồi sụt, mùa hè thì có vẻ khỏe khoắn, nhưng về mùa đông thì suy nhược đáng lo ngại. Lúc sau này triệu chứng bệnh hoạn của nhạc sĩ như muốn bộc phát.  Trong một buổi đi chơi núi trở về giữa đường, gặp gió biển lạnh chợt tới thấm lồng ngực khiến Chopin ngả bệnh, phổi bị viêm nặng mà từ đây khởi điểm là bệnh lao (thời đó bệnh này vô phương cứu chữa, em gái Chopin đã chết vì bệnh này). Trong mùa mưa, trời đông lạnh, nhà ở bị dột, nước mưa tràn ngập; một lò sưởi đốt than khói lên dày đặc không đủ ấm căn nhà. Bệnh ho càng ngày càng nặng, George Sand càng lo lắng, chủ nhà đòi nhà lại và đòi bồi thường tiền tẩy uế.  Đôi tình nhân lại phải lo việc dọn nhà đến một tu viện bỏ hoang vùng Valdamosa ở tạm.  George Sand vừa viết truyện, vừa dạy các con học, vừa phải chăm sóc người yêu.  Về phần Chopin dù đau yếu nhưng ông cũng vẫn soạn nhạc rất đều.  Những bài Preludes và nhất là bài Polonaise cung C thứ là những tác phẩm để đời về sau đã được soạn trong thời kỳ này. Ðặc biệt nhất là bản Etude cung E trưởng mà người sành nghe nhạc không thể không biết tác phẩm bất hủ Tristesse của Chopin được viết trong một ngày mưa gió. Lúc ấy, George Sand để Chopin một mình trong tu viện hoang vắng.  Phần đầu bản nhạc rất êm ái và buồn man mác, phần hai tiểu đoạn diễn tả sự kinh hãi của tiếng sấm chớp của mưa gió lạnh lùng. Và đoạn cuối tấu pháp Chopin đã thể hiện một cách tài tình qua nét nhạc sáng hẵn và tâm hồn trở lại bình tĩnh vì bước chân người yêu trở về… Vì nhận thấy dân trên đảo không có lòng hiếu khách nếu không nói là lạnh lùng ghét bỏ. Ðôi tình nhân đã quyết định hết mùa mưa là họ sẽ trở về Paris.  Thực không may, trong cuộc hành trình từ Valdemosa về Palma đường đi thật xấu, và xe rất xốc khiến Chopin bị thổ huyết. Rồi chuyến đi tàu biển từ Majorca về Barcelona lại càng tệ hại hơn. Chopin bị say sóng càng bệnh thêm trong người mất sắc như sắp chết.  Ðến Barcelona, họ được chuyển qua tàu Pháp và được săn sóc thuốc men khá hơn, họ trở về Marseilles và Chopin dần dần cũng phục hồi sức khỏe.  Tháng 5 1839, Chopin và Sand đã ghé thăm tỉnh Genoa (phía bắc Ý Ðại Lợi), nơi mà sáu năm trước đây Sand đã cùng với người tình cũ là thi sĩ Alfred de Musset hưởng những ngày ân ái. Sau đó Chopin và Sand đi trở về Nohant.  span>Qua mùa hè, nhạc sĩ lại chán cảnh đồng quê và muốn trở về Paris.  Bạn của ông là nhà xuất bản Julier Fontana đã lo thu xếp một căn nhà riêng cho họ.  Chopin và Sand sẽ ở riêng biệt, bên ngoài thĩ họ muốn tỏ cho thiên hạ biết họ chỉ là hai cộng tác viên trong lãnh vực văn nghệ chứ không phải là nhân tình.   Tại Paris, gia đình Chopin sống hạnh phúc. Solange đi học và ở trong nộI trú, cuối tuần mới về nhà. Maurice vì có khiếu nghệ thuật thích hội họa nên đã được họa sĩ tài danh Delacrois truyền dạy kỹ thuật, Chopin mở lớp dạy nhạc và George Sand soạn kịch. Hè 1840, Sand và người yêu ở lại Paris không về Nohant nghỉ  ngơi, vì nàng bận cho trình diễn vở kịch Cosima ở nhà hát Comedic Francais. Về phần Chopin, ông không soạn được một bản nhạc nào.  Mãi đến mùa đông 1841, ông mới hoàn thành được bản Polonaise cung F thứ và bản March Funebre. Cũng trong năm 1841, mối liên hệ của Chopin với Sand có vẻ bền chặt hơn, nên hai người đã quyết định sống chung trong cùng một căn nhà. Cuối năm ấy vào tháng 12, Chopin được vua Pháp Louis Philippe vời vào điện Tuiluries tấu nhạc và ông đã được tưởng thưởng trọng hậu.    Hè 1842, đôi tình nhân trở về Nohant nghỉ dưỡng sức, và lấn này có cả họa sĩ Delacrois đi theo. Tháng 11 họ trở về Paris, và dọn đến một căn nhà mới rộng lớn tạikhu Cite d’Orleans, nơi mà Chopin sẽ ở đến hết đời vào tháng 6 năm 1849.   Mùa hè 1845, có chuyện bất hòa giữa Maurice và Chopin.  Lúc ấy, Maurice đã lớn không muốn mẹ mình gắn bó với Chopin, con gái xinh đẹp của Sand là Solange  thì cũng có sự thương mến Chopin; và George Sand thì có sự rạn nứt tình cảm với Chopin, và khác nhau chính kiến.  Sand yêu dân chủ tự do cho nước Pháp, Chopin thì tôn trọng bảo hoàng.   George Sand đứng về phía con trai chống lại Chopin khiến cuộc tình không thể hàn gắn được, nên có một ngày Sand nói với Chopin một câu nhẹ nhàng nhưng nặng ngàn cân là nàng muốn dọn ra ngoài đã làm cho Chopin đau khổ đến chết. Cuộc tình duyên này kéo dài 8 năm đi từ yêu thương đến chống đối nhau, từ ghen tuông đến hận thù.  Hai người đã từ giã nhau trong đau thương ! Trong sự đau khổ này Chopin đã sáng tác nhiều nhạc phẩm thể hiện sự khổ đau bàng bạc trong các tác phẩm ấy.   Về sau, sức khỏe của ông càng ngày càng yếu kém. Nhạc sĩ Liszt bạn ông kể rằng  Chopin thường nói là khi ông làm đổ vỡ cuộc tình duyên này, ông đã làm đổ vỡ chính đời của ông !… Năm 1847 là năm được coi như cuộc tình lớn, tuyệt đẹp của hai khuôn mặt văn nghệ lớn George Sand và Frederic Chopin . George dọn ra ở riêng. Năm 1848, Chopin gặp lại Sand lần cuối vào tháng Ba chỉ để trao đồi chuyện vui đùa mà không cố gắng chắp vá lại cuộc tình dang dỡ. George vẫn thường theo dõi qua bà con, bạn bè để biết tin Chopin, còn Chopin ngàn đời chẳng thể nào quên được người tình diễm tuyệt George Sand. Ðến cuối đời, Chopin đã nằm trên giường bệnh ở Paris (Pháp). Người chị và một đệ tử và cũng là bạn thân nhất Guttmann, luôn luôn ở bên cạnh ông, vì biết ông không còn sống được bao lâu nữa.   Một hôm bá tước phu nhân Delphine Potocka, một người bạn chuyên hát nhạc dân ca nghe tin ông bệnh nặng liền tới thăm ông. Bà vừa tới thì ông yêu cầu bà hát cho ông nghe. Ðại nhạc sĩ Liszt kể lại: -          “Ai có thể từ chối lời yêu cầu của người hấp hối ? Chiếc đàn dương cầm được đẩy tới buồng bệnh nhân. Bà ấy đã ca với những tiếng nức nỡ, qua những dòng nước mắt chẩy xuống đôi má.” Chopin nói: “Bà hát hay quá ! Hát nữa đi !” Tuy xúc động, nữ Bá tước đã chìu theo ý muốn cuối cùng của bạn, ngồi lại vào đàn, và ca thêm một bản nhạc của Marcello. Chopin mỗi lúc càng yếu thêm. Ai nấy có mặt đều quì xuống với niềm lo sợ Thần Chết kề cận bên ông. Không ai nói một lời. Trong bầu không khí yên lặng trang nghiêm đó, người ta chỉ nghe thấy tiếng hát của ca sĩ bay bổng trên cao như từ thiên đường xuống với những tiếng nức nở thở dài như là bè nhạc đệm cho đám tang duới hạ giới. Ông nhấp chút rượu vang do đệ tử Guttmann đưa ly kề vào môi ông và thều thào nói: “Bạn quí ơi !…”  Chopin trút hơi thở cuối cùng lúc hai giờ sáng  ……    năm 1849 hưởng thọ 39 tuổi. Tang lễ được cử hành trang trọng, rất nhiều nghệ sĩ và giới quí phái tiển đưa ông đến nơi an nghỉ cuối cùng. Ước muốn của Chopin là đem trái tim trở về chôn ở Ba Lan, còn thân xác nằm ở Paris.  Chàng đã giữ một lọn tóc của George ép vào trang chót cuốn nhật ký đẫm lệ cho đến ngày nhắm mắt lìa đời.                                                                     *** Những năm trước đây, người viết đã đến khu phố sinh viên Quartier Latin nơi ở của Chopin và George Sand trong căn phòng mà giờ đây là nơi lưu niệm âm thầm, căn phòng bên có Văn sĩ Victor Hugo trú ngụ, các vật dụng như sách, bút, chén trà, tập nhạc,  bản thảo v.v… một thời bay lên không gian làm diễm tuyệt cho thế giới nằm yên đó theo thời gian.  Người viết ngậm ngùi và cảm kích ngưỡng mộ các danh nhân khi nhìn nét viết nhạc bằng tay của Chopin, của George Sand, và được xem bức tranh của danh họa người Pháp Barrias đã họa bức tranh diễn tả phút lâm chung của Chopin được trưng bày trong cuộc triển lãm Paris năm 1889 và được đoạt giải Huy chương Vàng. Hai tâm hồn văn nghệ lớn không còn gặp nhau nữa, nhưng một mối tình lãng mạn, lớn đẹp vẫn còn mãi trong văn nhạc cho đến ngày nay, mổi khi ta nghe tấu nhạc Chopin.            

Nhạc Sư FRANZ JOSEPH HAYDN Với Kỷ Nguyên Nhạc Cổ Ðiển Lãng Mạn

Tháng Tám 18th, 2008

Biên Khảo  Lịch Sử Âm Nhạc

 

                Joseph Haydn (1732-1809)

Ðến hậu bán thế kỷ XVIII, âm nhạc Tây phương  đã có những thay đổi về hình thức và có đặc tính mới, được mệnh danh là thời kỳ nhạc lãng mạn Cổ điển.  Loại nhạc mới này có những khác biệt về cách diễn tả và nhạc thể, phổ khúc và cân đối, khác với loại nhạc baroque thời trước (tiền cổ điển) là chỉ giữ một nhạc thể trong một  bài nhạc, ít có sự đổi thay về nhiệp điệu và nhạc cụ.   Sự thay đổI trong thế kỷ XVIII Ià sử dụng vài nhạc cụ vào vai trò hòa âm đệm nhạc.  Nói khác đi là các nhà soạn nhạc nghĩ đến  đặc tính riêng  của mỗi nhạc khí có khác biệt.  Nhạc cổ điển còn có đặc tính là cân đốI, bài nhạc thường được  soạn  với các câu ngắn, thường là 4  khuôn  (four-bar phrase) Trong kỷ nguyên  nhạc  cổ điển có hai nhạc sĩ lớn chế ngự là Haydn và Mozart.  Haydn ngưòi Áo quốc (1732 – 1809).  Ông là con trai của một gia đình thợ đóng và sửa bánh xe ngựa.  Khi ông lên 8 tuổi, giáo đường St. Stephen tại Vienna đã tuyển Haydn làm một lễ sinh trong chín năm, đấy là lúc ông vị vỡ giọng.  Sau đó là giai đoạn học tập và ông đi dạy học để sống.  Mãi cho đến năm 1759, Haydn được chỉ định giữ chức vụ chuyên nghiệp đầu tiên là giám đốc bộ môn nhạc cho Bá tước Morzin.  Trong hai năm ở chức vụ đó, ông đã viết những bài nhạc hòa tấu đầu tiên và nhiều bài nhạc bốn phần.  Ðến năm 1761, Bá tước Morzin bị kiệt quệ về tài chánh, dàn nhạc bị thu hẹp lại và Haydn hết việc.  Tuy nhiên, vào cuối năm ấy, ông đã tìm được việc mới, đấy là làm phụ tá cho vị nhạc trưởng của ông hoàng quí tộc Esterházy, khác hẳn vớI Morzin,  ông này thật giầu có..  Vì thế, Haydn được an tâm làm việc trong suốt 30 năm dài Chức vụ của Haydn tại đây cũng không có một qui chế nào đặc biệt.   Ông và các nhạc sĩ dưới quyền ông luôn phải mặc đồng phục, họ đưọc xếp vào với các nhân viên phục vụ trong hoàng gia, cùng với quân lính hầu, quân hộ tống  và các gia nhân khác.   Việc hằng ngày của Haydn là gặp ông hoàng để nhận chỉ thị về việc hòa tấu nhạc, soạn các nhạc phẩm theo ý thích của các vương tôn  độc quyền sử dụng. Thêm nữa, nếu không có lệnh của ông hoàng thì Haydn tuyệt đối không được soạn nhạc  ở bên ngoài lãnh địa của hoàng gia trong bất kỳ cơ hội nào.  Có thể nói được rằng hoàng thân  Esterházy hoàn toàn làm chủ sức sáng tạo của của Haydn, do đó, ông đã không có một cơ hộI để tự mình nêu tên tuổi.  Ngoài chức vụ phó nhạc trưởng, Haydn  còn có trách nhiệm dẫn dắt ban nhạc về mặt nghề nghiệp và xã hội, luôn cả về tình trạng âm nhạc và nhạc khí. Trong quảng thời gian này, Haydn có những mối tương giao rất tốt đẹp với gia quyến ông hoàng Esterházy.   Năm 1762, khi hoàng thân Nicolas lên nối nghiệp vương, ông này lại yêu thích âm nhạc và là một nhạc công tài tử, ông đã khích lệ Haydn thật nhiều, ông ta cất nhắc nhạc sĩ tài ba Haydn lên giữ chức vụ nhạc trưởng vào năm 1766.  Haydn đã tuyên bố: “Ông hoàng  Nicolas bao giờ cũng hài lòng về  việc làm của tôi.   Tôi đã bị  cắt đứt  liên lạc với thế giới bên ngoài, không có một ai làm rộn, quấy nhiễu tôi, tôi bắt buộc phảI giữ đặc tính riêng không giống ai hết.” Năm 1790, Hoàng thân Nicolas từ trần, Haydn mới thôi làm việc và bắt đầu đi du lịch.   Trong thời gian ông làm việc cho ông hoàng Esterházy, ông đã sáng tác nhiều nhạc phẩm, nhiều bản hợp tấu (Symphonies), hòa tấu (Concerto), lễ ca (Masses), nhạc kịch (Opera), giáo nhạc (Thánh ca Oratotios), nhạc giải trí (Divertimentos), nhạc khúc (Sonatas), nhạc 3 phần  và 4 phần (Trios, Quartets) , thêm vào 126 nhạc phẩm 3 phần giọng trầm dành cho ông hoàng Nicolas chơi đàn. Năm 1790, cuộc đời Haydn chuyển sang một khúc rẻ mới.  Ông được một ông bầu tên Salomon mời đi viếng thăm Anh quốc,  ông viết 6  nhạc phẩm hợp tấu để trình diễn.  TạI Anh Quốc, Haydn đã được hoan nghênh nhiệt liệt, các nhạc phẩm hợp tấu của ông đã được yêu cầu trình diễn  rất nhiều lần.  Ðặc biệt, nhạc phẩm Messiah cũng đã được cho trình tấu  trong dịp này và kéo dài suốt 18 tháng..    Haydn đã đưọc mọi người ngưỡng mộ và kính phục, vì ông đã có công tạo nên loại nhạc 4 phần cho dàn nhạc chơi nhạc cụ có dây gồm hai vĩ cầm, một đại vĩ cầm và một hồ cầm.   Lại có thuyết nêu lên rằng nhạc sĩ Samartini là ngườI đầu tiên có ban nhạc bốn nhạc cụ có dây.  Người khác thì cho rằng đấy là do Bocceneri hay Tartini.  Cứ cho là thế chăng đi nữa, ban nhạc có bốn đàn có dây như Haydn đã sử dụng  (và nhiều nhà soạn nhạc sau này)  chắc chắn   là dựa theo kiểu nhạc ba đàn có dây (string trio) của Ý đạI lợi và áp dụng vào nguyên tắc cổ điển.  Do công Haydn khai thác tận tình nhạc 4 phần và là người đầu tiên soạn nhạc thể loạI này, vì thế, nhiểu nhạc sĩ khác đã chọn thể nhạc này để diễn tả tư tưởng âm nhạc thầm kín nhất của mình. Năm 1794, Haydn sang Anh lần nhì, ông được đưa vào hoàng cung  triều kiến nhà vua George III.   Bộ nhạc bản thứ hai của Salomon trong thời kỳ này cũng kéo dài 18 tháng, gồm có nhiều bài hợp tấu, ba nhạc khúc cho dương cầm, nhi

NGUỒN GỐC NHẠC CỔ ÐIỂN

Tháng Sáu 23rd, 2008
Biên Khảo NGUỒN GỐC NHẠC CỔ ÐIỂN
Tác Giả: Linh Phương
              
Thưa quí vị: 

Bài viết dưới đây  đã được  soạn thật  giản lược, bởi vì  người viết  không muốn quí vị  khi bước chân vào khu vườn hoa nghệ  thuật âm nhạc Tây phương phải nhức đầu với quá nhiều chi tiết.  

Nhạc  Cổ Ðiển Tây phương đưọc chia ra làm ba thời kỳ như sau:

 I.   Thời Kỳ Tiền Cổ Ðiển gọi là Baroque.

II.  Thời Kỳ Cổ Ðiển gọi là Classical.

III. Thời Kỳ Lãng Mạn gọi là Romantic Period.  

I. Thời Tiền Cổ Ðiển gọi là Baroque

 Vào khoảng năm 1600-1750, tại các nước Âu châu như Ý Ðức Pháp  và Anh.  Ý-đại-lợi tiên phong đi theo thể nhạc này.   Thể nhạc này được sáng tạo  rất là phong phú như hợp ca với dàn nhạc, nhạc kịch, luân vũ v.v… (Concerto-Operadance).  Các thể nhạc này  được các danh sư âm nhạc viết lên, phần lớn phục vụ cho triều đình vua chúa, hoàng tộc như các nhạc sư Henry Purcell (Anh) Handel (Ðức) Vivaldi (Ý). 

Riêng danh sư Sebastian Bach của Ðức

từ đời cha đến đời con phục vụ âm nhạc trong nhà thờ, ông có rất nhiều nhạc phẩm soạn cho dàn nhạc hay cho dương cầm.

II.  Thời Kỳ Cổ Ðiển gọi là Classical

 Ðến thế kỷ XVIII là  nhạc Cổ điển với tiết tấu mới, giai điệu mới.  Trong thời kỳ này,  Vienna, Áo quốc là  một thành phố quan trọng của âm nhạc.   Những thể nhạc Symphony, Concerto, Sonata mà các  nhạc sư Haydn, Mozart, Beethoven, Mozart và Beethoven đã viết rất nhiều tác phẩm âm nhạc bất tử cho đến ngày nay.

Và Beethoven đã viết rất nhiều tác phẩm âm nhạc bất tử cho đến ngày nay.

L. van BeethovenBeethoven

(born Bonn, baptized 17 December 1770; died Vienna, 26 March 1827).

III. Thời Kỳ Lãng Mạn gọi là Romantic Period Ðến  thế kỷ XIX là phong trào Cải cách âm nhạc, phong trào Lãng mạn tại Âu châu chú ý đến nét hoa mỹ, ngôn ngữ âm nhạc, tình cảm vui buồn của đờI sống con người mà mỹ thuật, thơ văn được chú trọng rất nhiều, điển hình như Beethoven đã viết tác phẩm Sonata Ánh trăng như giới thiệu một phong cách mới. 

F. Chopin Chopin

Danh sư Chopin cũng đã viết nhạc phẩm Nocturne, nhạc sĩ  Ý vĩ cầm Paganini đã  soạn và trình diễn những nhạc phẩm  lãng mạn tuyệt vời không tả xiết.  Nhạc sĩ  Franz Liszt, Brahm, Mendelssohn, Tchaikosvky, Schubert,

Mendelssohn, Tchaikosvky (Nga) hay Schubert cũng đã tạo phong cách lãng mạn trong âm nhạc thật mạnh mẽ lưu danh và kéo dài đến ngày nay. 

 Nhạc sĩ  Schubert cũng viết nên nhiều  tác phẩm âm nhạc theo thể lãng mạn, ông  là ngườI đã tạo nên hình thức là ca hát chỉ một ca sĩ vớI đàn dương cầm vớI các ca khúc ngắn , và thể nhạc này gọI là Lieder rất nổi tiếng và thịnh hành khắp nơi. Tại đây, người viết  muốn đề cập một tí về đàn dương cầm trong phong trào âm nhạc Lãng mạn của thế kỷ XIX rất là hữu dụng và nổi  tiếng.  Người ta dùng đàn dương cầm  rất nhiều vì nó đa năng, có thể độc tấu, song tấu, có thể  đàn hay đệm nhạc cho dàn nhạc hòa tấu hoặc cho ban hợp ca lớn nhỏ, thậm chí piano đệm cho một ngườI hát, vì chiều rộng của âm thanh, âm vực của dương cầm cho  đến ngày nay vẫn còn    cây đàn có tầm vóc, trong thế  giới nghệ thuật không thể nào bỏ quên đàn dương cầm được. Ðến thế kỷ XX và bước sang thế kỷ XXI, đàn dương cầm đã được hiện đại hóa  theo  đà tiến triển của nền văn minh nhân loại, người ta đã sử dụng triệt để dòng diện, điện lực để sáng chế đàn Keyboard, Syntherise  theo hình thức của piano với các âm thanh  chiêu thức thích hợp  với trào lưu tiến hóa của âm nhạc điện tử.  Tuy nhiên, thử hỏi nếu bị mất điện lực thì nhạc sĩ  phải xử sự như thế nào đây?   Câu trả lời rõ ràng nhất là họ cũng đành thúc thủ và quay nhìn về phía có cây piano mà thôi.   Riêng vớI người viết này, đàn dương cầm lúc nào cũng chung thủy chờ đợi như người-tình-trăm-năm không biết mỏi mệt theo tháng dài năm rộn.                                                                      Houston, Texas  tại vùng sương trăng mờ                                         Tháng 4, 2005  

 

Nữ Nhạc Sĩ Linh Phương

Tháng Sáu 23rd, 2008
Tác Giả: Trần Quang Hải
Từ  vài năm qua, nữ nhạc sĩ Linh Phương, trước mùa hè năm 2004, chị cư ngụ tại Orlando Florida, Hoa Kỳ bắt đầu sản xuất những CD độc tấu dương cầm qua những ca khúc nổi tiếng Việt Nam. Tiếng đàn dương cầm của một nữ nhạc sĩ vừa có tài đàn, lại có tài soạn hòa âm cho tất cả những bài bản trình tấu.   Hơn thế nữa, chị lại có tài năng sáng tác cả nhạc lẫn lời, và phổ nhạc những bài thơ chọn lọc.  Chị Linh Phương có quen với tôi từ lúc học âm nhạc tại trường Quốc gia Âm nhạc Saigon, nhưng chị đi chuyên khoa piano.  Sau một thời gian gần 40 năm, tôi gặp lại chị Linh Phương tại Atlanta trong một chương trình văn nghệ vào năm 1994, và chị là trưởng ban nhạc để đệm cho Bạch Yến hát. Sau đó, tôi có đến Orlando và đã gặp chị tại đấy, và chúng tôi cùng đi thăm thành phố do chị hướng dẫn.  Lúc đó,  chị chưa nghĩ tới việc sản xuất băng và dĩa nhạc.  

Năm 1997, chị có gởi cho tôi một CD đầu tiên với tiếng đàn độc tấu dương cầm . Năm 2000, chị gởi cho tôi thêm hai CD với tiếng hát Huyền Châu, ca sĩ ở Canada cùng với một tập dạy đàn dương cầm cho những bản tân nhạc nổi tiếng.

Chị Linh Phương rất thích mưa, cho nên những tựa CD của chị đều mang chữ  “Mưa” như “Mưa Lệ” (CD đầu tiên), “Mưa Tình” (CD thứ nhì), “Mưa Tương Tư” (CD thứ ba). Cả ba CD đều được chị độc tấu dương cầm.  Năm 2001,  có hai CD khác với tựa “Mưa Giao Mùa,” và “Mưa Dĩ Vãng.”


Giọng hát của chị Huyền Châu trầm ấm đã diễn đạt những ca khúc nổi tiếng như “Cho em quên tuổi ngọc” của Lam Phương bằng tiếng Việt và Pháp. Bản này nhạc sĩ Lam Phương viết tặng Bạch Yến khi anh sang định cư ở Paris và Bạch Yến là người hát bài này đầu tiên được thu vào dĩa CD “Bạch Yến/Souvenir.”
 

Năm 1994, Linh Phương phổ nhạc bài thơ “Yêu Trăng” của Hà Bỉnh Trung, một loại thơ ngũ ngôn. Huyền Châu ca thêm những bản “Dạ Khúc” nhạc Schubert, (lời Việt Phạm Duy), “Kiếp Nào Có Yêu Nhau” (Phạm Duy, thơ Minh Đức Hoài Trinh), “Mắt Buồn” nhạc và lời Linh Phương, và “Tình Khúc Thứ Nhất” nhạc Vũ Thành An, (thơ Nguyễn Đình Toàn)


Nữ nhạc sĩ Linh Phương độc tấu 6 bài “Bâng Khuâng” (Nhạc của Nguyễn Túc),
“Trở Về Bến Mơ” (Ngọc Bích), “Mưa” (Văn Phụng), “Còn Gọi Tên Nhau,” (Trường Sa), “Mưa Chiều Kỷ Niệm” (Duy Vân và Quốc Kỳ) và “Gửi Về Anh” (Đỗ Thu).
Cuộc gặp gỡ giữa Huyền Châu và Linh Phương đã tạo điều kiện thích hợp cho cả đôi bên để thực hiện một CD đặc biệt, đi ngoài xu hướng hiện tại của giới làm nhạc Việt Nam ở hải ngoại. .

Linh Phương đã cố gắng mang lại cho trẻ em Việt Nam những bản nhạc “để đời” như “Hương Xưa” (Cung Tiến), “Nửa Hồn Thương Đau” (Phạm Đình Chương),  “Bao Giờ Biết Tương Tư” (Phạm Duy/Ngọc Chánh), “Tiếng Dương Cầm” (Văn Phụng), “Chiều Tím” (Đan Thọ), “Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang” (Phạm Duy/Ngọc Chánh), “Chừng Như Sóng Vỗ Mơ Hồ” (Vy Hùng), “Thuyền Trăng” (Nhật Bằng). 

Tất cả các bản này đều do Linh Phương soạn hòa âm cho piano in thành sách, đồng thời có kèm theo một cuốn băng để cho người học có thể nghe và tập đàn theo.  Việc làm này hiếm có trong giới nhạc Việt, và tôi rất hoan nghinh chị Linh Phương đã thực hiện một việc mà ít có ai nghĩ đến.  Lúc trước, khoảng thập niên 80, anh Võ Tá Hân có soạn hoà cho guitar và cho piano với những bản in ra trên giấy, nhưng không có băng nhạc kèm theo.

                                                             Trần Quang Hải

                                                                    Paris

Nhìn Lại 30 Năm Âm Nhạc Việt Nam

Tháng Sáu 23rd, 2008
 
Tác Giả: Linh Phương
 Tôi không có ý định làm một cuộc khảo sát hay tổng kết về đề tài này.  Muốn làm được điều này đòi hỏi rất nhiều thì giờ, cùng tham khảo tài liệu. Đây là việc làm của nhà nhạc học Trần Quang Hải, người đã với bao năm dày công miêt mài, và nếu anh không có tấm lòng thương yêu nhạc Viêt, lòng kiên nhẫn thì không ai có thể làm nỗi, vì nó đòi hỏi quá nhiều thời gian công sức và trí tuệ.  Nơi đây, tôi muốn nói lên những trăn trở, ưu tư của người theo nghiệp âm nhạc nghệ thuật đã lâu, và hoài bảo là muốn giữ gìn âm nhạc Việt nam không bị hư mất theo thời gian. tôi kêu gọi các anh chị em đang làm công việc nghệ thuật trong thị trường văn nghệ hãy yêu thương công việc mình làm một cách nghiêm túc và cẩn trọng.  Vì đấy là đạo đức và tấm lòng tôn trọng đồng bào của người làm nghệ thuật âm nhạc.  Trong các ngành nghệ thuật, âm nhạc dễ đi thẳng vào lòng người nhất, sự diễn tả trong phong cách qua các sắc thái vui buồn hỉ, nộ, ái, ố.  Vì thế, người ta thường dùng âm nhạc để làm vui đời và cũng dùng âm nhạc trong các lễ hội, cầu tế hoặc dùng âm nhạc trong các khoa chửa bệnh tâm lý trị liệu.  Trên bình diện rộng lớn hơn, âm nhạc cũng đã được dùng để ủy lạo tinh thần các chiến sĩ Quốc gia Việt Nam Cộng hòa nơi tiền đồn hoặc dùng âm nhạc để chiêu hồi các cán binh Việt cộng mà Tổng cục Chiến tranh Chính trị thời trước 1975 đã có một đội ngũ nhạc sĩ viết nhạc thật tài giỏi  đã đưa giòng nhạc của mình đến người nghe có sức thuyết phục, sự ấm áp và tin tưởng, vì thế đã chiêu hồi được nhiều cán binh miền Bắc trước năm 1975 trở về với quốc gia.  Điển hình có nhạc sĩ Y Vân trong nhạc phẩm ‘Ngườì Bạn Mười Năm Qua,’ nhạc sĩ Lê Dinh với nhạc phẩm ‘Bóng Đêm,’  Nhật Bằng và Nguyễn HIền qua nhạc phẩm ‘Về Đây Anh’ đã được dùng làm nhạc hiệu trong chương trình Chiêu hồi do Đài Phát thanh Saigon trên làn sóng hằng đêm.  LạI còn có nhóm Lê Minh Bằng, và sau này còn có các nhạc sĩ trẻ khác như Trúc Phương, Song Ngọc, Hoàng Trang, Hoài Linh, Thanh Sơn v.v…

Nhạc Việt phong phú vì ngôn ngữ Việt nam có các vần thanh bằng trắc theo tiếng nói.  Vì thế, các nhạc sĩ Việt nam của chúng ta đã viết nhạc theo thanh âm tiết tấu cộng với kỹ thuật viết để trải dài nỗi lòng của riêng mình.  Họ đã đóng góp vào nền nhạc Việt Nam nhiều nhạc phẩm bất hủ. Việt Nam đã sản sinh những bậc thầy tài hoa về âm nhạc,  dù họ đã sống nghèo trong đau thương, bệnh tật như Đặng Thế Phong, Văn Cao, Lê Thương, Vũ Thành, Hoàng Trọng, Khánh Băng, Lam Phương, Nhật Bằng, Văn Phụng, v.v…  Những vốn sống tích tụ cộng với tài năng cùng kiến thức, kinh nghiệm đã bật lên những cung nhạc xuất thần, hiến cho đời những tác phẩm âm nhạc tuyệt vời.  Và khi bài nhạc được diễn tả đã tạo nên sự xúc động cho người nghe qua ý nhạc, từ ngữ và tiết tấu.   Nhà nữ Nhạc học Nga hiện đại Nina Pugasova đã viết: ‘Nghệ sĩ phải có nhiều yếu tố sau đây: năng khiếu trời cho, sự học tập, kiên nhẫn,kỷ luật, sự sáng tạo, và đạo đức mới làm nên một nghệ sĩ mà đức tính khiêm tốn học hỏi chuyên cần là căn bản để phụng sự đời và chính mình thì mới thăng hoa tốt đẹp trong lãnh vực nghệ thuật.’  Nhạc Việt có sắc thái đằm thắm, tự tình dân tộc, thanh âm đẹp lồng vào lời ca tiếng nhạc đã làm cho nhạc sĩ ngoại quốc bạn tôi khi nghiên cứu về nhạc Châu Á, họ đã khen tặng nhạc Việt thật đẹp (beautiful), tạo cho người nghe âm thanh dịu dàng, nhẹ nhàng và sự  giản dị nhưng lại thật đẹp (La simplicité est la beauté!)   Xin đừng tưởng người ngoại quốc không biết thưỡng thức nhạc. Vì âm nhạc vốn là một ngôn ngữ quốc tế.  Nếu nghệ sĩ có thể diễn đạt được đầy đủ tính chất của âm thanh, diễn tả tinh thần, nói nôm na là cái hồn của bài nhạc, thì nhạc phẩm mới làm rung động người nghe. Ngoài phần ca hát, ca sĩ có thể diễn đạt bài hát theo sắc thái buồn, vui, trong sáng.  Muốn như thế, nghệ sĩ cần nghiên cứu sắc thái tinh thần của bài nhạc trước khi trình diễn hay trình tấu thì mới có khả năng truyền đạt tín hiệu đến nguời nghe.  Không có gì phản tác dụng khi lời của nhạc phẩm có nội dung chia ly đau thương, thế nhưng, ca sĩ vừa ca vừa cười toe toét bên cạnh các vũ công theo điệu Lambada chậm  như hiếp đáp, bức tử bài nhạc của người sinh ra đứa con tinh thần, quả là họ đã giết chết tác phẩm.  Khi ca nhạc hoạt cảnh dân quê, thế mà nữ ca sĩ với y phục mầu sắc lòe loẹt, đánh phấn tô son thật đỏ, tay đeo nữ trang sang trọng, giọng hát the thé,  có đôi khi họ còn quay mông về phía khán giả thì thật là chẳng có sự tôn trọng khán thính giả chi cả.

Đành rằng làm văn nghệ thì cũng có phần làm tiền, tuy nhiên, thiết nghĩ rằng người làm nghệ thuật nên hướng dẫn quần chúng đi vào sự thưởng thức nghệ thuật một cách đứng đắn, hợp lý chứ không chạy theo thị hiếu mà hậu quả sẽ di hại cho thế hệ về sau này, khi con em chúng ta tìm hiểu văn hoá nghệ thuật, thế mà họ thấy chỉ có như thế đó sao?  Họ sẽ hiểu lầm rằng nghệ thuật của người đi trước sao lại lai căng, bắt chước cách thô thiển và ấu trỉ đến thế! Từ khi miền Nam Việt nam đã bị bạo quyền Cộng sản cưỡng chiếm, người dân đã phải vượt biển đi tìm tự do, họ đã trả giá với biết bao là đau thương, tù ngục, tang tóc, tổn thương, mất mát để mong cho con cháu mình sau này được sống trong sự tự do, có giá trị, an toàn, với một tương lai tốt đẹp mà bạo quyền Cộng sản thâm hiểm đã hủy diệt văn hoá lịch sử, truyền thống, phong tục, gia bảo của nước nhà để thiết lập một  thế hệ mới của con cháu bác cho đúng câu ‘Mười năm trồng cây, trăm năm trồng người,’ thì thử hỏi sau 30 năm nền nhạc Việt nam còn lại những gì? Trong nước thì chánh quyền Cộng sản không cho những sản phẩm văn hóa hải ngoại nhập vào.  Trái lại, họ đầu độc tư tưởng người Việt hải ngoại  bằng những nghị quyết này nọ… Họ đã tung ra những đòn quyết liệt hòng nhuộm đỏ tư tưởng của người Việt tại hải ngoại mà giờ đây cuộc sống đã ổn định chỉ muốn thưởng thức những công trình văn hóa nghệ thuật dân tộc và những khai sáng khám phá mới mẽ đi đúng đưòng nghệ thuật dân tộc Việt.  Vậy những người làm công tác nghệ thuật nên chú trọng đến tinh thần đạo đức.   Thật vậy, có những nhạc phẩm thật tinh túy và hồn nhạc nói lên nỗi niềm của người sáng tác mà ngưòi soạn hòa âm đã giới thiệu chủ đề của nhạc phẩm lại đi vay mượn phần nhạc dạo (Introduction) của điệu nhạc Tầu Thượng Hải hoặc có một bài nhạc thời thượng mà phần nhạc dạo họ lại lấy tiết tấu của ‘Sonate Ánh trăng’ (Moonlight Sonate của Beethoven) thì đúng là họ đã hiếp đáp một đại tác phẩm cỗ điển Tây phương.   Bên cạnh đó còn có những bài nhạc với giai điệu êm dịu thì ban nhạc lại đổi ra những điệu nhạc Disco, Techno, Hip hop, còn bài nhạc có tiết điệu Bolero, Rumba thì họ đổi sang Cha Cha Cha, Be Bop.

Điển hình là gần đây bài ‘Còn Yêu Em Mãi’ của Nguyễn Trung Cang.  Đây là một nhạc phẩm sầu buồn mà tác giả đã sáng tác cho ngưòi vợ mình khi ông ta đang ở trong trại tù.  Một  nhạc phẩm thật sâu lắng với điệu nhạc chậm để diễn tả, thế nhưng, có người đã thay đổi tiết tãu thành ra điệu nhạc giật gân, họ trững giỡn với niềm đau thương của tác giả.  Và còn nhiều nữa mà người viết không thể kể xiết trong bài viết này.  Sau 30 năm, nay nhạc Việt sẽ đi về đâu khi mà hồn văn hóa dân tộc đã bị xoáy mòn, thui chột, vì những nhạc phẩm đã bị bức bách xiêu vẹo qua một hình thức khác.  Cảm giác của người nghe đã bị bắt buộc thay đổi: Nhạc Viêt thuần túy đằm thắm thì bị sửa lại theo thời trang lai căng.  Những bài nhạc buồn thì đã bị sửa lại ra điệu nhạc vui nhộn, còn các bài hùng ca thì tiết tấu bị đổi ra nghe thật chậm chạp như một người bị bệnh.  Còn các nhạc phẩm sống động vui tươi trong sáng thì đã bị ca diễn như một sự diễu cợt không trách nhiệm.   Nhà Nhạc học người  Ý-đại-lợi Larry Rosen đã nói với tôi rằng ‘Bạn có muốn trở thành một nhạc sĩ thành công có giá trị thì hãy học tập nghiên cứu hồn nhạc dân tộc, bên cạnh đó cộng thêm sự sáng tạo nghệ thuật, kỹ thuật cho đúng tính chất bản thể riêng của văn hoá Việt nam.  Đó mới là một nghệ sĩ có tinh thần đạo đức. Vì nhạc Việt nam có hồn nhạc riêng không thể làm cho giống nhạc ngoại quốc được.  Nếu có  làm đi chăng nữa thì cũng chỉ là một loại nhạc lai căng mà người nghe không hiểu được chi hết, không thẩm thấu được.  Họ chỉ thấy múa may sai lạc điệu và sắc thái của bài nhạc.  Và nếu chúng ta muốn giới thiệu nhạc Việt cho người ngoại quốc thì cũng không có tác dụng chi; nên họ xem thường nhạc Việt của chúng ta.’ Tóm lại, như đã trình bày trên đây, chúng ta là người Việt hãy yêu mến nhạc Việt, gìn giữ bảo tồn văn hóa.  Vì chúng ta không còn gì mà chỉ còn lại gia tài âm nhạc, xin đừng làm mai một, xin đừng làm mất đi tính chất văn hóa dân tộc để những ngườI đi làm văn nghệ, nghệ thuật như chúng ta có thể ngẩng mặt hảnh diện với thế giới qua các công trình giới thiệu nền nhạc  Việt Nam.    Mong lắm thay!                                                                    Linh Phương

                (2000 Outstanding Musicians of the 20th  Century 2001 International Biographical Center Cambridge, London, England)   

Giọt Hồng Sương Trên Thềm Ðịa Ngục (Tiếp Theo và Hết)

Tháng Sáu 18th, 2008

Linh Phương

 Tôi nói:         -  “Tôi không có liên hệ gì hết với anh nầy…”    Vừa nói đến đó, tên Quản giáo đứng sau lưng đá vào thân tôi làm tôi ngã xuống; anh ấy chạy lại đở tôi lên thì bị tên Quản giáo dùng cây ma trắc đánh tới tấp lên đầu, trên lưng anh làm anh té xuống.  Anh lấy hai tay ôm đầu và nói: -  “Cán bộ, cán bộ, tôi không có “quan hệ” gì hết.” Tên Quản giáo nói:       -   “Có đứa khai báo mầy đã liên hệ các phòng, liên lạc giùm cho nó.  Mày còn cung cấp giấy viết cho nó là mục đích gì? Mày còn phạm tội ăn cắp tài sản của trại đem cho nó trong khu nầy ai cũng  biết mà còn ngoan cố chối cãi hở?” Tôi xen lời:  -  “Cán bộ nói không có bằng cớ, tôi không hề nhờ anh này liên hệ với ai, mà cũng     không nhờ anh cung cấp gì hết, mà anh cũng không đem gì  hết cho tôi.” -  “Thế sao có lần mày xin thuốc đỏ để làm gì? Để viết truyền đơn hả?”  Hắn ta hỏi. Tôi nói:  -  “Tôi bị vết thương làm độc sau lần đi  “làm việc”  về, anh là lao động thì chuyện y tế     trong trại là đương nhiên huống hồ cán bộ Đủ đã xét.” Tên trưởng khu phóng tia mắt về anh bạn tù và hỏi: -          “Ngoài cái tội ăn cắp hoa anh còn liên hệ đến  việc gì khác? Trước  đây anh cải tạo tốt nên cho anh lao động, bây giờ anh đã phạm nội qui trầm trọng, phá hoại sự an ninh trong trại.  Anh muốn cấu kết tuyên truyền phản động làm loạn trong trại nầy à.  Chà,Thiếu tá Cảnh sát muốn cấu kết với nữ nhạc sĩ làm chuyện phản động à?” Giờ đây, tôi mới biết anh là Thiếu tá Cảnh sát thì sự lo ngại cho anh càng tăng lên.  Tôi lo cho tôi thì ít mà cho anh thì nhiều, vì  sau khi họ đưa những bằng cớ anh liên hệ với các tù nhân ở các khu khác.  Nhưng anh chối  một mực nói không có; vì thế, họ càng điên tiết.  Họ lôi anh đi ra ngoài. Tên Quản giáo kia lôi từ ngăn kéo ra mãnh giấy mà tôi nhớ đã cho chị Tuyết lúc chị ta bị bắt về tội biển thủ công qũy Nhà nước vào tạm trong biệt giam chung với tôi vài ngày. Tôi viết bản nhạc trên bao giấy thăm nuôi đó và xếp lại giấu đi  để định khi ra tù tôi sẽ viết lại.  Có một đêm,  chị Tuyết vì lạnh, chị ta xin tôi chút giấy để hút thuốc. Tôi cho chị ấy giấy để quấn thuốc, chị ta còn xin tôi cả bao để khi chuyển phòng chị sẽ có giấy mà quấn hút. Tôi thương chị vì  mới vào tù không quen thiếu thốn, và san xẻ với chị.  Đâu ngờ ngày hôm nay nó nằm trên bàn giấy của họ.  Khi họ hỏi tôi, tôi trả lời trong lúc đi tắm nắng lượm được trong sân giấy viết chứ không ai cung cấp.  Sau đó, họ buộc tội tôi có liên lạc các phòng khu bên cạnh với các tên Y, C, và B, và bắt tôi ký giấy thú tội.  Tôi vẫn một mực không ký. Tên Trưởng khu im lặng ký tờ giấy đưa cho  tên Quản giáo và ra lệnh đưa tôi ra ngoài.  Hắn đưa tôi về phòng  biệt giam rồi còng tay chân bảo tôi ngồi đó. Lúc ấy  là vào giờ cơm chiều.  Loa phóng thanh trong nhà tù thông báo tin tức:    -   “Tên phản động  Trần Thanh Tánh Thiếu tá Ngụy đã không thành khẩn khai báo mà còn ngoan cố phạm nội qui của trại. Thi hành lệnh của Trưởng khu chiếu theo mười hai điều nội qui của nhà nước và mười  bốn điều nội qui của trại, nay hình phạt cách ly ba mươi sáu ngày không được miễn chế.” -   “Tên Lê Linh Phương đã cấu kết với tên phản động  Trần Thanh  Tánh liên hệ với các cải tạo viên phá hoại  an ninh trong trại.  Chiếu theo nội qui của nhà nước và của trại, nay thi hành lệnh phạt cách ly hai mươi hai ngày miễn chế.  an>Lệnh nầy thi hành ngày hôm nay.”  Tôi nghe tiếng xầm xì phòng bên cạnh. Có tiếng gõ vào tường tưng tưng hỏi của các thầy và họ trách sao tôi đã tin người để xảy ra cớ sự. Tôi mệt mỏi với tâm trạng buông trôi .  Đã cùi rồi thì đâu còn sợ lỡ gì nữa!  Đến đâu thì đến, tôi đã sẵn sàng; nên khi tên cán bộ đưa tôi vào phòng tối cách ly tôi xem thường mà thôi.   Lần nầy tôi bị treo tay chân đứng theo lối khỉ để máu bị động, dưới đất mùi phân nước tiểu xông lên nồng nặc. Tôi bị đứng theo lối đó không biết bao lâu, lòng thầm cầu xin cho anh Tánh có can đảm và sức khoẻ qua các hình phạt. Riêng tôi thì biết sức mình đã yếu, vì qua những trận đòn vừa qua, lại thêm vết thương bị chuột cắn nay đã nhức nhối mà không được chữa trị  nay lại càng thêm đau đớn vô cùng. Tai tôi ù, gương mặt đã thấy nặng, đầu óc thì căng thẳng, mắt thì mờ đi không thấy gì hết, cả thân hình đong đưa và tôi ngất đi lúc nào không biết… Khi tỉnh dậy, chân không đứng vững nên người cứ ngả tới trước, cổ họng tôi đắng và môi khô, tôi  thật khát nước.  Có tiếng mở cửa tò vò bên cạnh để đưa cơm, tôi biết có người  kế bên cũng bị  cách ly như tôi. Tên cán bộ mở cửa tháo dây treo tay chân, tôi té ngồi đờ đẩn một lúc.  Hắn đưa ca cơm rồi đóng sầm cửa ra đi.  Rồi sự im lặng bao trùm suốt đêm.  Tôi thiền để lấy sức, cố  quên cơn đau nhức đang hành hạ và cả người bị sốt, tôi thầm cầu nguyện xin Ơn Trên  cho tôi qua khỏi cảnh ngộ đau thương này.  Tôi nhận thức rằng trong hoàn cảnh tận cùng dướI đáy địa ngục có thật này trong ngục tối Cọng sàn thì chỉ có sức mạnh tâm linh mới đưa tôi vươn lên  khỏi  sự tuyệt vọng này. Sáng ngày hôm sau, cửa xà lim mở.  Tên cán bộ đưa đôi kính mắt của tôi,  xong hắn bảo tôi mang vào. Tôi ngạc nhiên, thông thường, họ rất ghét những người mang kính.  Họ cho rằng người mang kính không phải vì yếu mắt mà là thuộc thành phần “trí thức không đáng một cục phân” theo lối suy nghĩ ngu đần do tên Mao Chủ tịch tuyên bố như thế!  Theo sau tên cán bộ này  lại có hai tên lính kèm đi sau, hắn mở cửa xà-lim kêu các tù nhân nam ra ngoài, già có, trẻ có.  Có người râu tóc dài ra, tất cả thất thểu tụ trước cửa xà lim tôi.  Hắn nói:   -  “Các người bị cách ly đã lâu ngày, cần tập thể  dục  cho khỏe, vậy thì hãy biểu diễn màn thể dục theo kiểu Ngụy xem nào!” Tôi thấy vài người quơ tay chân yếu xìu, đứng không vững, cứ chúi xuống trước.  Thình lình!  Tôi thấy tên lính đến gần một tù nhân già nhất bắt ông tụt áo quần ra, và tên cán bộ ra lệnh cho những người còn lại phải bỏ áo quần  và trần truồng đứng nhảy mà họ gọi là tập thể dục trước mặt tôi. Tôi quay mặt đi và khóc ngất cảm thương cho các anh ấy, chúng muốn làm nhục tôi cho tôi sờn lòng… Lòng tôi xót xa vì hình ảnh đau thương, sự cắn răng chịu đựng của các người đó làm tôi cảm phục và  khi bọn chúng cất tiếng cười hô hố đầy tính thú vật thì chỉ càng làm tôi thêm căm hờn  bọn chúng thêm hơn! Viết đến đây lòng tôi thầm mong cho những tù nhân ngày trước đã trải qua cảnh ngộ đó tại T.30,  nếu có vị nào đọc những giòng nầy thì xin hiểu cho lòng tôi.  Bởi vì tôi chỉ muốn nói lên cho mọi người biết đến cái dã man khốn nạn của Cọng sản, bọn chúng đã thành con thú mang mặt người.  Riêng tôi vẫn không thể nào quên được buổi sáng đau thương đó, trong tôi vẫn còn nỗi uất hận bọn chúng.  Bởi thế cho nên giờ đây dù đã ở trên xứ người đã lâu, có biết bao nhiêu thú vui cám dỗ để thụ hưởng nhan nhản chung quanh tôi, nhưng trong  tôi đâu còn lòng dạ nào để vui chơi theo lối sống thác loạn trong xã hội mới này.    Sau thời gian cách ly, tôi được lệnh chuyển từ T.30 Chí Hòa về Sở Công an Thành phố để bị ăn “bánh hỏi thịt quay” vài lần, và từ đó tôi bặt tin về anh Tánh.  Nay đã gần hai thập niên đi qua rồi.  Mỗi khi mùa Thu về thì lòng tôi vẫn nhớ về  ký ức xưa cũ  ở T.30, đỉnh cao chất ngất của đau thương, đọa đày,  oan nghiệt mà giấy mực nào có thể tả hết.  Anh Tánh ơi!  Nếu anh có đọc được những giòng chữ này thì Phong Linh (cái tên của Linh Phương do anh đặt) luôn mong cho anh được phục hồi sức khỏe, anh tìm được hạnh phúc bên mái ấm gia đình để bù lại những ngày tháng đau thương trong chốn ngục tối.  Vì tại bên thềm địa ngục Cọng sản có thật đó,  anh đã xả thân giúp cho Phong Linh trong những ngày, giờ, phút khốn khổ…   Mỗi một mùa thu trở về thì Phong Linh cũng thường tưởng nhớ đến phong cách giàu lòng nhân của anh.  Anh mãi mãi là điểm sáng trong lòng Phong Linh,  vì anh đã cho Phong Linh biết được hai chữ Tình Người  như là những Giọt Hồng Sương Bên Thềm Ðịa Ngục tăm tối Cọng sản. n> Xin tạ ơn anh.   Xin cảm tạ Thượng Đế Yêu Thương.                                                                                 Hết